CHÂN LÝ LÀ GÌ?

10404271_1456689764584832_9100384034160957265_n.jpg

Thưa tiến sĩ Adler,

Tôi cảm thấy khó mà định nghĩa được chân lý là gì. Một vài người bạn của tôi nói rằng chân lý là điều mà hầu hết mọi người cùng nghĩ như nhau. Nhưng điều đó đối với tôi thật vô nghĩa, bởi vì đôi khi đa số lại sai lầm. Thậm chí những gì mà mọi người cùng đồng ý có thể không phải là chân lý. Hẳn phải có những định nghĩa tốt hơn về chân lý? Nó là gì? – A.N.

A.N. thân mến,

Ông hoàn toàn đúng khi cảm thấy không thỏa mãn. Bạn bè ông đã không đi tới một định nghĩa về chân lý, họ mới đến được một trong những dấu hiện của chân lý. Tuy nhiên trong một số trường hợp việc đa số người khẳng định điều gì đó về chân lý là một chỉ dẫn cho thấy nó có thể là chân lý. Nhưng đây chỉ là một trong những dấu hiệu của chân lý, và hoàn toàn không phải là dấu hiệu tốt nhất. Nó không trả lời được câu hỏi của ông và của Pilate (1) – “Chân lý là gì?”

Xem xét cái gì dính dáng tới việc nói dối có thể sẽ giúp cho chúng ta hiểu được bản chất của chân lý. Nếu một người đàn ông nói với một người phụ nữ “Tôi yêu em” nhưng ông ta không yêu, thì ông ta đang nói dối. Khi một đứa trẻ lấy trộm hộp bánh nhưng lại nói với mẹ nó “Con không lấy” thì nó đang nói dối. Nói dối là nói trái với những gì bạn biết, bạn nghĩ hoặc cảm nhận. Nó khác với sự lầm lẫn thành thực, chẳng hạn một trọng tài phạt một cầu thủ phạm lỗi trong khi thực sự cầu thủ ấy không phạm lỗi và ngược lại.

Josiah Royce (2), nhà triết học vĩ đại người Mỹ vào đầu thế kỷ XX định nghĩa kẻ nói dối là kẻ cố tình đặt không đúng chỗ các thuộc từ; nghĩa là, anh ta nói “có” trong khi muốn nói “không có”, hoặc nói “không có” trong khi muốn nói “có”. Định nghĩa của Royce về kẻ nói dối nhanh chóng dẫn chúng ta đến một định nghĩa mang tính triết học về chân lý nổi tiếng nhất của Plato (3) và Aristotle (4) cách đây 25 thế kỷ; nó được lặp lại theo nhiều cách khác nhau kể từ thời ấy nhưng chưa hề bị vượt qua.

Plato và Aristotle nói rằng những ý kiến được coi là đúng khi nào chúng khẳng định điều gì có, thì có, hoặc điều gì không có, thì không có; ngược lại, những ý kiến của chúng ta là sai khi chúng khẳng định điều gì có, thì không có, hoặc điều gì không có, thì có. Một khi cái “có” trong phát biểu của chúng ta phù hợp với phương cách mà sự vật có, lúc đó phát biểu của chúng ta là đúng, và chân lý của phát biểu nằm ở chỗ nó tương ứng với những dữ kiện hiện có của giới tự nhiên hay thực tại. Khi chúng ta nghĩ rằng một cái gì hiện hữu hoặc đã xảy ra mà nó lại không hiện hữu hoặc không xảy ra, thì chúng ta mắc sai lầm và do đó điều chúng ta nghĩ là sai.

Vì vậy, như bạn thấy, chân lý rất dễ dàng định nghĩa, và để hiểu định nghĩa ấy cũng không khó lắm. Có lẽ Pilate thiếu kiên nhẫn hẳn đã vui lòng chờ đợi câu trả lời nếu ông ta biết rằng câu trả lời dành cho ông lại ngắn gọn đến thế. Nhưng cũng có thể ông ta đã nghĩ đến một câu hỏi khác, “Làm thế nào chúng ta chỉ ra được một phát biểu là đúng hay sai?”. Đây chính là thắc mắc mà ông và các bạn ông nêu ra và đòi được trả lời.

Đối với thắc mắc này có ba mẫu câu trả lời chính. Mẫu câu thứ nhất khẳng định rằng một vài phát biểu là đúng một cách hiển nhiên, chẳng hạn, “Toàn thề thì lớn hơn thành phần.”. Những phát biểu như thế hiển lộ chân lý cho ta một cách trực tiếp bởi một điều rõ ràng là ta không thể nào nghĩ trái với chúng được. Khi ta hiểu thế nào là một toàn thể và thế nào là một thành phần, ta không thể nghĩ rằng thành phần lớn hơn toàn thể (mà nó thuộc về) được. Bằng cách đó chúng ta biết được ngay lập tức chân lý của lời phát biểu rằng toàn thể lớn hơn bất cứ thành phần nào của nó.

Một mẫu câu trả lời khác nói rằng chân lý của lời phát biểu có thể kiểm chứng bằng kinh nghiệm và quan sát. Nếu một người nói rằng trời không mưa ở Chicago vào một ngày nào đó trong tháng qua, ta có thể kiểm chứng chân lý của lời phát biểu đó bằng cách tìm đọc sổ sách ghi chép những bản tin thời tiết. Hay như ta có thể nhúng một bàn chân xuống hồ bơi xem nước có ấm như lời người bạn nói hay không. Tương tự, một sự tổng quát hóa có tính chất khoa học được coi là đúng chỉ khi nào ta không quan sát thấy những sự kiện trái ngược.

Mẫu câu trả lời thứ ba có liên quan đến những lời phát biểu vừa không đúng một cách hiển nhiên, vừa không thể kiểm chứng bằng các sự kiện quan sát được. Đó có thể là thắc mắc về tính cách của một người, loại sản phẩm gì được ưa thích nhất cho những mục đích nào đó, hoặc con ngựa được ưa chuộng nhất có thắng trong đợt chạy tới hay không. Trường hợp này cho phép tìm kiếm sự nhất trí của một nhóm người nào đó, các nhà chuyên môn chẳng hạn. Một ý kiến được đa số đồng thuận có thể được như là dấu hiệu cho thấy ý kiến đó có khả năng đúng.

Mẫu câu trả lời thứ ba là mẫu mà bạn ông đã làm. Tuy nhiên việc nó thể hiện sự nhất trí của một nhóm người không làm cho nó trở thành câu trả lời chính xác cho câu hỏi, “Chân lý là gì?”, cũng không phải là câu trả lời đầy đủ cho thắc mắc, “Làm thế nào để chỉ ra được một phát biểu là đúng hay không đúng?”.

Định nghĩa chân lý thì dễ; biết một phát biểu cụ thể nào đó có đúng hay không thì khó hơn nhiều; và theo đuổi chân lý là khó khăn nhất.

———-
Chú thích:
(1) Pontinus Pilate: Nhà kinh doanh người La Mã. Theo Kinh Thánh, ông làm biện lý xứ Judaea và kết án tử hình Chúa Jesus.
(2) Josiah Royce (1855 – 1916): Triết gia Mỹ. Là người ủng hộ thuyết Duy tâm, ông viết nhiều tác phẩm triết học trong đó có The Religious Aspect of Philosophy (“Khía cạnh Tôn giáo của Triết học”, 1885).
(3) Plato (428? – 347 TCN): Triết gia Hy Lạp. Là học trò của Socrates và là thầy của Aristotle, ông lập ra trường đại học có tên là Academy (ngày nay có nghĩa là Viện Hàn Lâm) Athenes. Các tác phẩm của ông, viết theo hình thức đối thoại, gồm có Phaedo, Symposium và Republic.
(4) Aristotle (384 -322 TCN): Triết gia và nhà bách khoa Hy Lạp. Ông là một trong số những triết gia có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong lịch sử triết học Tây phương.

( Sách Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại – Dr. Mortimer J. Adler )

Nguồn: FB Tinh thần khai minh

CÁCH ĐỌC MỘT CUỐN SÁCH KHÓ

10532360_1456762387910903_252048580881481639_n.jpg

Thưa tiến sĩ Adler,

Nói thật với ông, tôi nhận thấy những cuốn sách gọi là vĩ đại rất khó đọc. Tôi sẵn lòng tin lời ông rằng chúng vĩ đại. Nhưng làm sao tôi có thể đánh giá cao sự vĩ đại của chúng nếu như đối với tôi chúng quá khó đọc? Ông có thể cho tôi vài gợi ý hữu ích về cách đọc một cuốn sách khó không? I.C.

I.C. thân mến,

Nguyên tắc đọc quan trọng nhất là nguyên tắc mà tôi cứ nói đi nói lại với nhóm nghiên cứu những tác phẩm lớn của mình: Trong khi đọc một cuốn sách khó lần đầu tiên, cứ đọc nó một mạch không dừng lại. Hãy chú ý đến những gì anh có thể hiểu, và đừng dừng lại vì những gì anh chưa nắm bắt được ngay lập tức. Cứ làm như vậy. Đọc một mạch cuốn sách không nản lòng vì những đoạn, những chú thích, những luận điểm, những tham khảo mà anh không nắm bắt được. Nếu anh dừng lại ở bất kì những chướng ngại này, nếu anh cứ trì hoãn, anh sẽ thất bại. Trong hầu hết các trường hợp, anh sẽ không thể giải đáp được sự việc bằng việc bám lấy nó. Anh có cơ hội hiểu nó nhiều hơn qua lần đọc thứ hai, nhưng điều đó đòi hỏi anh phải đọc cuốn sách một mạch trong lần đầu.

Đây là phương pháp thực tiễn nhất mà tôi biết để bẻ gãy vỏ bọc của một cuốn sách, để có được cảm tưởng khái quát về nó, và chấp nhận cấu trúc của nó một cách nhanh chóng và dễ dàng như có thể. Anh càng lần lữa trong việc tìm hiểu nghĩa tổng thể của một cuốn sách, anh càng lâu hiểu nó. Đơn giản là anh phải hiểu bíết tổng thể trước khi anh có thể xem xét những phần trong phối cảnh thực của chúng – hoặc trong bất kì phối cảnh nào.

Giá trị của Shakespeare bị phá hỏng vì bao thế hệ học sinh trung học bị buộc phải nghiên cứu kĩ Julius Caesar, Hamlet, hoặc Macbeth từng cảnh một, tra cứu tất cả những từ quá mới mẻ đối với họ, và học tất cả những chú thích quá chuyên môn. Kết quả là họ không hề thực sự đọc vở kịch. Thay vào đó họ bị kéo lê qua nó, từng chút một qua nhiều tuần lễ. Đến khi họ tới phần cuối vở kịch, chắc chắn họ đã quên mất phần đầu. Lẽ ra người ta nên khích lệ họ đọc vở kịch một mạch. Chỉ có như thế họ mới hiểu chút ít về nó và khiến họ có thể hiểu nó nhiều hơn.

Những gì anh hiểu khi đọc một mạch cuốn sách từ đầu đến cuối – thậm chí nếu chỉ năm mươi phần trăm hay ít hơn – sau đó sẽ giúp anh có thêm nỗ lực trở lại nơi anh đã qua trong lần đọc ban đầu. Thực ra anh sẽ đi giống như bất kì người lữ hành nào trên những đoạn đường chưa biết. Đã từng đi qua địa thế đó một lần, anh sẽ có thể khám quá nó lại từ những lợi thế mà trước đó có thể anh chưa biết. Anh sẽ ít có khả năng nhầm những con đường phụ với con đường chính. Anh sẽ không bị những bóng mát lúc giữa trưa đánh lừa, bởi anh sẽ nhớ lại chúng ra sao lúc mặt trời lặn. Và bản đồ trong tâm trí mà anh đã lập ra sẽ chỉ tốt hơn những thung lũng và đồi núi là tất cả bộ phận của một phong cảnh như thế nào.

Không hề có phép thần thông nào về việc đọc nhanh lần đầu. Nó không thể đạt được kết quả tốt và chắc chắn không thể được coi như một cách thay thế cho việc đọc cẩn thận đáng dành cho một cuốn sách hay. Nhưng việc đọc nhanh lần đầu làm cho việc nghiên cứu cẩn thận dễ dàng hơn nhiều.

Thực tiễn này đã giúp anh giữ được sự nhạy bén trong khi lao vào một cuốn sách. Đã bao lần anh mơ mộng theo cách của mình qua hết trang này đến trang khác để khi tỉnh dậy anh không có một ý tưởng nào về nơi anh đã qua? Điều đó có thể xảy ra nếu như anh để mình tự trôi một cách thụ động suốt cuốn sách. Chưa ai từng hiểu được gì nhiều theo cách ấy. Anh phải có một cách nắm bắt mạch chung.

Người đọc tốt luôn tích cực trong mọi nỗ lực để hiểu. Bất kì cuốn sách nào cũng là một vấn đề, một điều bí ẩn. Thái độ của người đọc phải là thái độ của một thám tử tìm kiếm những manh mối đi vào những ý tưởng cơ bản và nhạy bén với tất cả những gì làm cho chúng rõ ràng hơn. Nguyên tắc về việc đọc nhanh lần đầu giúp duy trì thái độ này. Nếu bạn theo cách đó, bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy mình tiết kiệm được bao nhiêu là thời gian, bạn sẽ hiểu thấu đáo hơn biết bao nhiêu, và nó sẽ dễ dàng hơn biết bao nhiêu.

( Sách Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại – Dr. Mortimer J. Adler )

Nguồn: Tinhthankhaiminh

Thanh niên đối với sự học

HTN: Bài đăng Đăng trên tạp chí Thanh- Nghị (chủ nhiệm Vũ Đình Hòe), số 14, ra ngày 1er Juin 1942.

Một hôm, nhân bàn việc quyên tiền để tậu một miếng đất giáp Hội Trí-tri Hà thành làm sân thể thao cho học trò và tậu một ngôi nhà làm phòng giấy vĩnh viễn cho Hội Truyền bá quốc ngữ, một bạn thanh niên có chân trong hội đứng lên nói rằng:

Sao những hội học như hội ta không dạy cách …làm giàu, cho nước ta cũng có hạng người trung sản sẵn tiền giúp việc công ích, việc cứu tế ? Mỗi khi cần tiền làm việc công, đành phải bó tay,không vin vào đâu được ! Vì tiếng vậy, nước ta chưa làm gì có một hạng người trung lưu vừa có tiền, vừa có học, vừa có cả giáo dục nữa. Người Tây cho hạng người đó ( bourgeoisie), vào phần lọc lõi hơn cả trong quốc dân, vì hạng đó đã từng cần cù và cần kiệm trong hai ba đời, mới tích lũy được tài sản về vật chất, về trí tuệ, về tinh thần. Nước ta, dù nghèo túng đến đâu, cũng nên theo cái gương đó, bắt đầu học lấy những tính cần lao tiết kiệm, cho sớm có một hạng người trung sản ra gánh vác việc đời.

Các bạn thanh niên đang tủm tỉm cười, thì một hội viên nói tiếp ngay rằng :

Tôi rất tán thành lời đề nghị đó. Nghề gì chẳng là học? Nghề làm giàu cũng phải học: phải biết cách giữ lấy đồng tiền hiện có mà sinh lợi ra, đừng đem phung phí vào những thói đời thường ưa chuộng, như việc khao vọng, việc cưới xin, việc ma chay. Vậy trước khi mở những trường thực dụng , những lớp bổ túc, trước khi bàn đến cách dạy , các khóa học, các nghệ thuật để đem ra ứng dụng vào công nghệ, vào thương nghiệp, vào hội học, nên hô hào làm việc này : bài trừ các tục xấu dở, tiệt dần những cái mầm độc, nó đã làm tiêu ma cái nguyên khí của đồng bào và xô đẩy biết bao nhiêu gia đình vào cảnh điêu tàn. Những hội học nên gây lấy cái phong trào này, trước là để cảm hóa xã hội, sau là để ngăn ngừa những sự khuynh gia bại sản , nó đã làm đình trệ các việc cải cách trong dân gian.

Một bạn thanh niên bẻ rằng:

“Không nên cải cách to tát lắm, dù theo lý thuyết hay đến đâu cũng hại; phải thong thả dần dà, phải giữ lấy cái chế độ cũ, nhưng đổi dần đi : đó là lời của các nhà chính trị, nhưng dù thế nào nữa, câu chuyện mà chúng tôi đang bàn đây có lẽ hơi ra ngoài cái tôn chỉ của hội học.

Một người bèn hỏi ngay rằng : – Thế thì học để làm gì ?

Người thì bảo : “ để kiếm gạo”, “ để làm quan”, kẻ thì bảo “ để lấy vợ giàu” !

Ngoài những thuyết duy lợi ra, còn có nhiều ý kiến hay, tưởng nên chép ra đây để mở rộng con đường thanh nghị.

Người chủ trương thuyết dạy làm giàu nói rằng :

Học để ra sức chiến đấu với các tệ tục, để cho cách sinh hoạt đỡ tầm thường mà có thi vị một chút

Người phản đối những sự cải cách lớn nói thêm rằng :

Nhưng phải giữ lấy cái nền nếp cũ, phải tôn trọng những kỷ cương làm gốc cho sự sinh tồn nước nhà, đừng để cho vong bản, vì ai cũng công nhận rằng “ đã mất cái tinh thần của dân tộc là mất hết, không thể khôi phục được nữa.”

Có lẽ thế, ta có câu “ Ăn lấy sống, ở lấy sáng; khôn thì sống, bống thì chết”. Không học sao khôn được ?

Nhưng bọn tân tiến phải học thêm nhiều. người ta đã bảo tiếng nói là cái thuyền để chở vạn hóa; vậy ai đã là người trí thức phải học tập thế nào cho tiếng nước nhà thành cái thuyền đó, nhưng cái thuyền đó phải đóng bằng gỗ nhà cho thật chắc, không nên dùng những gỗ tạp nham, sợ khi ra đến bể khơi không chịu được gió to sóng cả. Nghĩa là bao giờ miệng đọc mà tai nghe thấu, trên dưới thông dụng thì những điều mà các bạn ước mong mới có thể thực hành được. Đã hay rằng tư tưởng muốn truyền bá thì phải có kẻ học thức, nhưng muốn thực hiện ra thì phải có công chúng mới xong.

Học không những để biết các lẽ hành động của quốc gia, biết những điều chân lý cốt yếu cho đạo đức xử thế, lại còn để biết mê sự đạo đức bằng người ta mê người đàn bà đẹp, biết đời người có những mục đích cao thượng, nên ra công cố sức mà sống cho xứng đáng.

Thực tế, có học thì mới biết những cái lý tưởng làm gốc cho quốc hồn : lý tưởng yêu nước, lý tưởng ham học, lý tưởng ăn ở theo đạo đức. Một nhà thông thái nước Pháp đã nói rằng : “ Hễ có một cái lý tưởng cao như thế, thì bụng nghĩ việc làm như có cái ánh sáng vô hạn chiếu qua vào.”

Mấy lại biết đâu, may ra sáng tạo được như nhà thông thái ấy chăng?

Tôi tưởng nhân tài trong một nước không những cốt ở sự học, lại còn cốt ở gia tộc nữa.

Thế thì trái hẳn với ý kiến người Âu Mỹ.

Chẳng trái tí nào, vì người Âu Mỹ bảo phải có học thức cao, nhưng lại phải có cả dòng giống tốt nữa.

Các bạn thanh niên bàn bạc ôn hàoCác bạn thanh niên bàn bạc ôn hòa cẩn thận rồi kết cục lại quay về hai cái tư tưởng cũ đã làm gốc cho dư luận Á Đông, một là “ bảo chủng” hai là “ tồn học”. Sau một bạn lấy quyển Sách học đề cương ( quyển 6, tờ 102a) ra đọc một đoạn làm kết luận, ai nấy đều chú ý, tỏ vẻ tôn cổ hơn trước. Đoạn sách ấy chưa ai dịch, nay chép ra đây để biểu thị cái ý kiến thanh niên đối với việc học ngày nay :

“ Đường lối học thế nào ?”

“ có lối học vụ thực, có lối học vụ danh”

“ Học hết sự thực mà vẫn sợ có lối thất thực là lối học của cổ nhân”

“ Học ham hư danh mà chưa thoát khỏi cái thói tuẫn danh là lối học của người đời sau.”

Thế nào gọi là lối học của cổ nhân ?

“ Ba thiên Duyệt mạnh ( của ông Phó Đuyệt làm ra để dạy vua Cao Tôn nhà Thương) nói về sự nghiệp quần thần, sáu điển Thái bình ( của ông Chu Công làm ra để dạy vua Thành vương) nói về qui mô chính trị, không một việc gì là không có sự thực.

“ Văn , hạnh, trung , tín : đức Khổng lấy bốn điều ấy dạy học trò. Đức hạnh, ngôn ngữ, chính trị, văn học : học trò đức Khổng học ở bốn khoa đấy. Dạy ở đấy, học ở đấy : không sự gì là không thực.

“vậy thì học đã hết sự thực, mà vẫn sợ rằng có cái lỗi thất thực, ấy là lối học của cổ nhân.

Thử đem lối học của người đời sau nói ra : học về lối kê cổ ( nghiên cứu học đời xưa) thì lưu ý ở xe ngựa ( làm quan có bổng lộc), học về lối minh kinh ( rõ nghĩa sách) lại say đắm về áo xanh áo tía ( chủ ý thi đỗ), học về lối thanh liêm, thậm chí để xe nát ngựa gầy, học về lối giảng độc, thậm chí để đầu bù mặt cáu.

“ Vậy thì học ham hư danh mà chưa thoát khỏi cái thói tuẫn danh, ấy là lối học của đời sau đó.

“Ôi, học không phải là học xuông mà thôi đâu!

“ Có thực học ấy có thực dụng : học mà không dùng, tức là người học suông đó”

“ Câu chi thành tận tính ( rất thành hết tính) ở Trung dung chép , là công đứng thánh nhân giúp đỡ trời đất, câu chính tâm thành ý ( chính là trong lòng, thực ý) ở Đại học chép, là gốc đứng nhân dân trị nước yên thiên hạ.”

“ Khi còn ẩn, thì sửa một mình cho hay cho giỏi; khi đạt , thì làm thiên hạ đều hay, đều giỏi”

“Rất qui về lối vụ thực của cổ nhân,là có thực dụng, rất ghét về lối vụ danh của người sau, là chỉ cầu hư danh mà thôi.”

“ Có chí về việc học, ấy há không biết kén chọn vậy ru ?”

Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố

(Trước năm 1945, Nguyễn Văn Tố Làm việc tại Viễn Đông Bác Cổ và Hội trưởng Hội Trí Tri, Hội Truyền bá quốc ngữ.)

Nguồn: hocthenao.vn

Văn Minh Tân Học Sách

Cách đây môt thế kỷ, Văn Minh Tân Học Sách (kế sách xây dựng nền học mới để đạt đến văn minh) được coi là một cương lĩnh để xây dựng một nền giáo dục, học thuật mà dựa trên đấy quốc gia và dân tộc đi vào thế giới của văn minh và tiến bộ. Văn Minh Tân Học Sách được đưa vào sách giáo khoa của Đông Kinh Nghĩa Thục, và sau này được Đặng Thai Mai dịch ra quốc ngữ. Cho đến nay ai là tác giả của Văn Minh Tân Học Sách vẫn còn là một bí ẩn.

Trước khi giới thiệu toàn bộ văn bản Văn Minh Tân Học Sách, Học Thế Nào xin trích một đoạn giới thiệu văn bản này của GS Chương Thâu:

Đầu thế kỷ XX, ở nước ta xuất hiện một tác phẩm chữ Hán của tác giả vô danh nhan đề “Văn Minh Tân Học Sách” (文明新學策). Cuốn này ra đời trước khi xuất hiện phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục (trước năm 1905), sau này dùng làm tài liệu giáo khoa của trường Đông Kinh Nghĩa Thục, năm 1907. Văn Minh Tân Học Sách là một áng văn nghị luận, bàn về văn minh ta, văn minh Tây, nêu lên những nguyên nhân làm cho nước ta chậm tiến, ngưng trệ kéo dài, đồng thời đưa ra những biện pháp văn hóa và kinh tế nhằm đưa nước ta tiến kịp phương Tây. Văn Minh Tân Học Sách nhấn mạnh: “Văn minh là chủ nghĩa mở mang trí khôn cho dân” và “chấn hưng dân khí, khai thông dân trí, mở rộng dân quyền, cải thiện dân sinh”. Những mặt văn minh Tây khác Ta cần phải học tập bao gồm:

– Nhân dân châu Âu được tư do tư tưởng, tự do viết sách bày tỏ ý kiến của mình, nên mọi phát kiến đều “ngày một mới, tháng một lạ”. Ở ta thì sợ phạm húy, sợ vượt bề trên… toàn đăng huyền thoại, truyền thuyết, chích quái, lòe loẹt… mà chẳng mở mang dân trí. “Ôi, nếu không biết đến sách báo mới thì thôi, chứ đã biết đến mà lại bưng bịt che lấp đi, khiến cho không nghe, không thấy chuyện gì, để tự mình lại củng cố một căn tính nô lệ, nhân cách như thế, thiệt nên lấy làm đau đớn!”.

– Chế độ giáo dục châu Âu nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản, thiết thực… còn ở ta toàn học sách Tàu, nói lại lời cổ nhân, thơ phú, văn biền ngẫu… không chịu giảng đến cái học phú cường cơ xảo của nước ngoài.

– Chế độ chính trị châu Âu là lập hiến, cộng hòa, bàn việc gì cũng khai hội, ai nấy đều góp ý, sớm sửa đi, chiều sửa lại, cốt làm sao cho đúng chân lý, hợp tình hình. Còn ở ta, hành chính thì cứng nhắc, nhân sự thì im lìm, cứ làm theo lệ cũ, không chịu xem xét kiến thức, luật ban hành ra dân không hề được tham khảo, đọc trước, bàn luận trước sau.

– Người Âu coi nước và dân có quan hệ mật thiết, còn ở ta chỉ có trên áp chế dưới, dân phải phục tùng. Người Âu thích mạo hiểm, xem thường nguy nan, còn người nước ta thì chỉ thích yên một chỗ, không hề biết đến nước nào khác.

Sau này Văn Minh Tân Học sách được học giả Đặng Thai Mai dịch sang chữ quốc ngữ, in trong cuốn :”Văn thơ Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ 20″. Cuốn sách vần như một hồi chuông cảnh tỉnh cho xã hội Việt nam vẫn còn bị những tư tưởng, tập quá cổ hủ ấy chi phối, trói buộc.

Văn Minh Tân Học Sách

Viết 1904 bằng tiếng Hán – Nguyên bản dịch của Đặng Thai Mai

Thiết nghĩ: văn minh là một danh từ đẹp đẽ không phải do một sự hào nháng, màu mỡ mà làm nên; các môn học văn minh là những phúc tốt lành, không phải chuyện một sớm, một chiều có thể lấy được. Muốn làm nên và lấy được là nhờ có một chủ nghĩa lớn. Chủ nghĩa gì thế? Ấy là chủ nghĩa mở trí khôn cho nhân dân.

Kể các nước trên mặt địa cầu này, nước này còn là dã man, nước kia đã bán khai, nước nọ thì văn minh. Ấy là tùy theo chỗ dân trí từng nước thông hay tắc, nhiều hay ít, chóng hay chậm mà khác nhau.

Câu nói của nhà học giả phương Tây: “văn minh không phải là có thể mua bằng giá trị mà thôi, mà còn phải mua bằng đau khổ nữa”. Giá trị là gì? Tức tư tưởng. Đau khổ là gì? Là cạnh tranh. Càng tư tưởng thì càng cạnh tranh, càng cạnh tranh thì càng tư tưởng. Rồi do đây, hết thảy các khoa thanh học, quang học, trọng học, điện học, thủy học, khí học, hóa học, địa dư, thiên văn, toán pháp và cơ khí, không môn học nào là không phừng phực nảy ra. Lý do để đi tới chỗ cực điểm của văn minh là bởi thế đó.

Văn minh với dân trí, hai đàng cùng làm nhân quả lẫn nhau. Nhưng muốn mở dân trí, trước hết phải thấy bế tắc ở chỗ nào và sự phát đạt bắt đầu từ đâu, bấy giờ mới có thể bắt tay vào việc được. Bằng không chỉ có thể nhìn thấy biển cả mênh mông rồi than thở mà thôi.

Từng xét, thánh nhân đời thượng cổ đã chế được đủ đồ vật để dùng, lập thành khí cụ cho thiên hạ tiện lợi. Khoa học cách trí đã thấy tản mác ở bộ Chu quan,[1] các sách Quân tử[2], Mặc tử[3]. Á châu là ngọn nguồn văn minh đấy. Nước Đại Nam ta vốn là một nước lớn văn minh. Nói về vị trí thì vào khoảng ở giữa ôn đới và nhiệt đới. Đất tốt, khí hậu điều hòa, thóc lắm, tằm nhiều, các nguồn lợi miền núi, miền biển hơn cả thiên hạ. Dân trong nước làm ăn dễ dàng. Trải qua các triều đại, vua thánh, tôi hiền cùng làm cho thịnh vượng lên, rực rỡ thêm, to tát ra. Trong bài tựa của Lao Sùng Quang đề đầu tập Phong nhã thông biên[4] có nói ta được các nước trong, ngoài đều khen là nước thanh danh văn vật. Cái đó đã đành rồi.

Nhưng nay thì sao? Của báu núi rừng, nguồn lợi đó ta không được hưởng. Trăm thứ hàng hóa, quyền lợi đó ta không được nắm. Cho đến các hàng vóc nhiễu, nhung, len, vải, lụa, giày, dép, khăn tay, mục kỉnh, dù che, dầu hỏa, đồ sứ, đồ pha lê, đồng hồ, phong vũ biểu, hàn thử châm, ống nói, kính hiển vi, kính ảnh, bút giấy, son tàu, mực tàu, kim, chỉ, khuy, cúc, phẩm nhuộm, xà phòng, nước hoa, diêm, bánh sữa, kẹo mứt, dược phẩm, thuốc lá, chè, rượu… không mua của Tàu thì cũng nhập của Tây cả. Thử lấy một cái bảng kê số xuất khẩu/nhập khẩu trong một năm mà tính, thì sẽ thấy rằng một khi đã gánh vàng đi đổ… ra ngoài rồi, thì không sao mong châu về Hợp phố nữa. Của nước như thế thật đáng tiếc.

Nông học có hội: người ta đương cạnh tranh về nghề nông đây, còn ta thì vẫn như cũ. Hỏi ta có cày máy để giúp việc cày, điện khí để làm cho lúa tốt, các phương pháp để cứu hạn hán, trị sâu keo không?

Thương chính có sở: người ta đương cạnh tranh về nghề buôn đây, còn ta thì vẫn như cũ. Hỏi có hạm đội để hộ thương, thị trường để thông thương, các công ty lớn do chính phủ và nhân dân góp cổ phần để lập nên không?

Công nghiệp có xưởng: người ta đương cạnh tranh về công nghệ đây! Còn ta thì vẫn như cũ. Hỏi trong công nghệ có ai trổ khéo, phô tài ngày một mới, tháng một lạ như Oát (James Watt), như Sơn (Edison) không?

Tài của nhân dân như thế. Thật đáng hãi hùng.

Kìa những kẻ ham mê đàn sáo, đầu hồ, bài lá, cờ tướng, độ thơ, đánh chữ, số, tướng, địa lý, phù thủy, ngày ngày dốc cả trí không vào những thứ vô dụng, sống say chết mộng thì chả kể làm gì. Nhưng hạng cao hơn, đỗ đạt một tí, được cái tiếng quèn, đã vội khủng khỉnh ta đây là kẻ cả, tự xưng là bậc giữ gìn thê đạo, ngày ngày khoe câu văn hay, khư khư ngồi giữ những thuyết hủ lậu, khinh bỉ hết thảy học mới văn minh. Hạng kém thua nữa thì chỉ nghe có vấn đề thăng quan lên mấy bậc, cất nhắc mấy người, chứ không biết đến vấn đề nào khác. Có một ông nào đó đã nói với các bạn hậu tiến: các thầy muốn ra làm quan thì phải cẩn thận, chớ cớ đọc sách mới, chớ có xem báo mới. Ôi nếu không biết đến sách báo mới thì thôi, chứ biết đến mà lại bưng bít che lấp đi, làm như không nghe, không thấy điều gì, để tự mình lại củng cố trong mình một căn tính nô lệ, nhân cách như thế, thật nên lấy làm đau đớn!

Nghĩ lại văn minh nước ta là có cái đặc tính là luôn luôn tĩnh như vậy; văn minh châu Âu thì có tính luôn luôn động như kia. Cái đó ai cũng biết. Nhưng vì sao lại như thế! Ấy là bởi có ảnh hưởng tương phản và nguyên nhân khởi điểm đấy. Nay xin lần lượt kể ra.

Thế nào là ảnh hưởng tương phản? Xét ra các nước châu Âu: trên có nghị viện duy trì quốc thị[5], dưới có báo quán đề đạo đạt hạ tình[6]. Đại trước tác thì có Dân ước luận của Lư thoa[7], Tiến hóa luận của Tư tân tắc[8], Dân quyền thiên của Mạnh đức tư cưu[9]. Suy rộng ra, nào diễn thuyết, nào thi ca, đều cốt phát huy cái chủ nghĩa yêu nước, yêu nòi giống. Nước ta có thế không? Làm văn sách thì chỉ sợ phạm húy, dâng thư cho người trên thì chỉ e phạm tội vượt phận nói leo, chỉ chừng đó đã khác hẳn với các nước không cấm nhân dân bàn bạc. Huống chi nào chuyện trích quái, nào chuyện truyền kỳ, thơ bao nhiêu quyển, văn bao nhiêu tập, văn hoa lòe loẹt thì có, còn nói về mở mang trí khôn cho dân thì hoàn toàn không có gì. Đó là điều ta trái với người về giới tư tưởng.

Người châu Âu đặt giáo dục chia làm ba bậc: tiểu học, trung học và đại học, cứ bốn năm là một kỳ[10]. Khi vào học, lấy những môn văn tự nước nhà ngày nay, cổ văn La mã, văn tự và tiếng nói ngoại quốc, toán học, địa dư làm những môn đầu tiên. Khi học đã mãn khóa, lần bậc tiến lên, thì cứ tùy theo năng khiếu của học sinh, hợp với môn học nào thì dạy cho môn học ấy: chia ra luật học, thiên văn học, võ bị học, y học, cách trí học v.v… Học thành tài sau mới dùng, dùng làm có được việc thì sau mới thành chức. Nước ta có thế không? Những món ta học và nhớ ấy chỉ là sách Tàu; những bài ta chú thích ấy chỉ là lời của cổ nhân; những thứ ta thi ấy chỉ là kinh nghĩa, thơ ngụ ngôn, biến ngẫu tứ lục! Đó là điều ta trái với người về giáo dục.

Người châu Âu, họ tổ chức chính quyền trong nước có chính thể lập hiến, có chính thể quân dân cộng hòa. Cứ số bao nhiêu người đây thì cử một người làm nghị viên. Hễ bàn đến một việc gì, thì trước phải khai hội: kẻ bàn, người nói, sớm sửa đi, chiều sửa lại, cốt làm cho đúng chân lý, hợp với tình hình. Nước ta có thế không? Hành chính thì cấm thay đổi; dùng người thì quí im lìm lặng lẽ; chiếu theo lệ cũ, nhưng lệ cũng không nhất định; luật cũng ban bố đấy nhưng dân gian không được đọc luật. Đó là điều trái nhau về giới kinh tế[11].

Người Âu cho rằng nước và dân quan hệ mật thiết với nhau. Cho nên có chính thể cộng hòa, mà quốc thể tức là gia thể[12], có tục thượng võ mà quốc hồn tức là gia hồn, có lệ hỗ trái[13] mà quốc mạch tức là gia mạch; có lỗi kiêm biện[14] mà quốc sự tức là gia sự; có phái tự do mà quốc quyền tức là gia quyền. Nước ta có thế không? Ngoài văn chương không có gì là quí; ngoài áp chế không có gì là tôn chỉ; ngoài phục tùng không có gì là nghĩ xa! Đó là sự trái nhau về giới tính tình.

Người Âu trọng du lịch, xem thường hiểm trở gian nan, Ma-tây[15] dời đi Già nam[16] có 40 năm; Kha luôn bố[17] bàng hoàng ở Đại tây dương cũng có đến vài mươi năm; Lợi mã đậu[18] lặn lội ở Tàu cũng đến 19 năm. Ngoài ra như đi thám hiểm Băng dương, đi vòng quanh địa cầu, đều là những việc thường thấy. Nước ta có thế không? Môn học thực dân ta chưa hề nghĩ đến, thị trường hàng hóa ta chưa hề đi tìm. Lìa nhà mươi dặm đã bùi ngùi những mưa gió hoa vàng. Lữ thứ vài năm đã than thở quan hà đầu bạc! Nói gì đến Tiêm la, Diến điện, Nam chưởng, Cao man là đất nước hẻo lánh quê kệch, không ai chịu đặt chân tới; nhưng ngay đến Trung hoa, đối với ta, vốn là chỗ cùng tộc loại, cùng đạo giáo, cùng lễ giáo, văn học, cho đến phương diện giao tế cái gì cũng giống nhau, thế mà người Tàu nhan nhản khắp nơi kinh kỳ đô hội bên ta, còn người nước ta thì chưa từng một ai đến thành Ngũ dương[19] cả! Đó là sự trái nhau về giới phong tục.

Thế nào gọi là nguyên nhân khởi điểm?

Một là khởi ở cái điểm nội hạ ngoại di[20], không thèm hỏi đến chính thuật và kỹ năng của nước khác. Hai là khởi ở cái điểm quý đạo vương khinh đạo bá[21], không thèm giảng đến học phú cường, cơ xảo của nước ngoài. Ba là khởi ở cái điểm cho xưa là phải, cho nay là quấy, không chịu xem xét kiến thức và những sự suy nghĩ bàn luận của người sau. Bốn là khởi ở cái điểm trọng quan khinh dân, nên không thèm kể đến tình hình hay dở ở chốn hương thôn.

Bốn điểm này chính là khởi đầu của năm giới[22], và năm giới ấy cũng là kết quả của bốn điểm. Thành thử mấy ngàn năm nay, văn minh tiến hóa của ta mới có cái tính tĩnh mãi mà không có cái tính động mãi. Thật là đáng ngậm ngùi buồn bã vậy.

Vậy thì sống ở đời nay mà muốn cầu cho văn minh, không thể không lo mở mang dân trí. Này dân có trí thì cái công lệ thiên diễn. Người da vàng chúng ta thì kém gì người da trắng đâu. Có điều là tai mắt chưa thấy qua, thì chưa thể phát triển; hình thức có cái còn thiếu thì không biết bắt chước vào đâu; vốn liếng chưa dồi dào thì không thể nên làm được. Vậy không nhờ người đại biểu để mở mang cho thì quyết là không thể được.

Nay đã từng ngửng đầu trông lên, cúi đầu nhìn xuống, trầm ngâm suy nghĩ cho cùng, để tìm kế mở mang dân trí giữa nghìn muôn khó khăn, thì chỉ thấy có sáu đường:

Một là dùng văn tự nước nhà. Văn tự trong thiên hạ bắt đầu từ ba nhà Khư Lư, Thư Tụng và Thương Hiệt[23]. Những văn tự mà các nước đồng văn với ta vẫn dùng là lối viết từ trên xuống dưới. Văn tự đặt ra là cốt để ghi tiếng nói. Cho nên trong Ân bàn[24], Chu cảo[25], đều là văn bạch thoại; mười lăm thiên Quốc phong đều là những tiếng địa phương người Trung quốc đã nói rồi. Các nước trên địa cầu, nước nào chẳng vậy. Như nước Xiêm, nước Lào, họ có thứ văn tự của họ là lối “Hài thanh, hữu hành”[26]. Nước Nhật gần đây cũng đặt ra thứ chữ riêng của họ. Còn nước ta thì vẫn chưa có. Ấy là một điều rất kỳ. Thiết nghĩ hẳn nước ta đời xưa chắc cũng phải có văn tự, chẳng qua lâu ngày thất truyền mà thôi.

Gần đây mục sư người Bồ đào nha, chế ra chữ quốc ngữ, lấy 26 chữ cái châu Âu phối hợp với 6 âm, 11 vận, đánh vần theo lối hài thanh mà đọc ra tiếng ta, rất là giản dị nhanh chóng. Tưởng nên một loạt học theo. Phàm người trong nước đi học nên lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên, để trong vài tháng đàn bà trẻ con đều biết chữ; và người ta có thể dùng quốc ngữ để ghi việc đời xưa, chép việc đời nay, và thư từ có thể chuốt lời đạt ý. Đó thực là bước đầu tiên trong mở mang trí khôn vậy.

Hai là hiệu đính sách vở. Nước ta từ xưa đến giờ, các nhà viết văn kể cũng khá nhiều. Như Khâm định Việt sử cương mục, như Thực lục, Liệt truyện, Nhất thống chí, Lịch triều chí, Vân đài loại ngữ, Công hạ kiền văn, Địa dư chí, Gia định chí, Nghệ an phong thổ thoại, Đồ bàn thành ký, Hưng hóa thập lục châu kỷ, Phủ man tạp lục v.v… đều đủ để cung cấp tư liệu về sơn xuyên, phong tục, văn vật, điển chương, và để cho người sau mượn đó làm gương nữa. Vậy mà người mình mà một khi đi học là đọc ngay sách Tàu, bỏ sách nước ta không nhìn đến! “Tịch đàm[27], vong tổ”, thật đáng thương thay.

Nghĩ lại, sách Tàu chép chuyện Tàu đã không quan hệ gì với ta cho lắm, rồi đến các thứ tiên nho đời Tống, đời Minh vẫn gọi là vây cánh cho kinh điển thánh hiền, đại loại như các tập Thiền thuyết, Tồn nghi, Đính nghi, Sảng tâm, Mông dẫn, Kinh án, cho đến Thí thiếp và Sách lược, đầy dẫy những lời bàn luận của các nhà đại gia, thì cũng chẳng khác gì bọn múa giáo trong buồng, lục đục bác bẻ lẫn nhau, bịa ra câu hỏi rồi bịa ra lời giải đáp, chỉ làm rối tai mắt người ta và nhọc nhằn cho kẻ học phải ghi nhớ mà thôi.

Xin thử nghĩ: “Xuân vương chính nguyệt” chỉ là một lời chép trong kinh Xuân thu, thế mà người thì bảo là theo tháng giêng lịch nhà Hạ, kẻ thì cho là theo tháng giêng lịch nhà Chu, chẫu mõ vào cãi vã, rút cục hàng trăm hàng ngàn năm nay bàn luận vẫn không ngã ngũ ra sao cả! Cột đồng Mã Viện chỉ là một vết tích của người xưa, thế mà hoặc cho là ở Châu Khâm, hoặc cho là ở Châu Liêm, hoặc cho là ở phía nam nước Lâm ấp, phung phí đến mấy vạn chữ mà chung quy vẫn không tìm ra manh mối gì, rồi phải đặt ra lời đoán phỏng chừng: có lẽ lâu năm đã sụp đổ xuống bể! Ôi giá thử có thể gọi thánh hiền từ âm phủ về chỉ rõ cho ta, cũng chẳng bổ ích gì, huống hồ chỉ uổng công tìm tòi mà chẳng được nào. Kinh, sử còn thế đủ biết sách khác thì thế nào!

Người đời mấy khi sống được trăm năm, thế mà dốc hết tinh thần hữu dụng giam vào đống sách đầy xe, ngất nóc! Đời người còn có nghĩa vụ phải làm vậy mà nửa phần cái tài trí vô cùng lại bị hao mòn vào chồng giấy loại mọt đục, mối ăn. Vậy thì sách vở há lẽ không nên đem ra hiệu đính lại sao? Tưởng nên đặt ra một tòa soạn sách: pho nào nên đọc, pho nào không nên, đặt thành cái chương trình học để học theo từng cấp mà học cho hết. Tựu trung như Hiếu kinh, Trung kinh, Tiểu học toán chú, Tạc phi am và những lời hay nết tốt của các hiền triết đông, tây xưa, phàm những điều có bổ ích cho nhân tâm thế đạo, đều nên trích lấy đại yếu, viết thành một tập, rồi lại dịch ra quốc ngữ để làm độc bản cho lớp sơ học. Kinh truyện thì chỉ chọn lấy chính văn[28]. Sử thì chỉ chép lấy thế thứ hưng vong, những lý do các việc lớn thành hay bại và khuôn phép chế tác sáng lập. Đại khái lấy Nam sử làm phần chính, rồi dịch nghĩa ra. Lại thêm vào đấy những bản đồ vẽ làng nước, đường sá, đình điền để bổ sung vào. Sử Tàu thì chỉ đọc qua cho biết đại lược. Sử Tây thì có các tập Ngũ đại châu địa đồ, Vạn quốc cương giám, Cận chính sử yếu, Tây học khảo v.v… cần phải bỏ bớt những chỗ rườm rà, để cho người đọc dễ hiểu là được rồi.

Ba là sửa đổi phép thi. Nghĩa lý kinh điển rất là tinh thâm, thế mà muốn mượn văn chương nông cạn để dò xem thực học thì có đúng lý không? Bách gia rộng rãi mênh mông không biết đâu là cùng, thế mà muốn đo sự ghi nhớ của một người để xét nghiệm chân tài, phỏng có hợp tình không? Vậy nên sách vở dẫu có hiệu đính rồi, mà phép thi vẫn chưa sửa đổi thì cũng chưa phải là tận thiện đâu.

Này nhé, nào là kinh nghĩa, là phú, là thơ, là chiếu, là chiểu, là luận, là văn sách, đều là phép thi của ta cả đấy. Nhưng không biết những lỗi phá, thừa, khởi, thúc, thanh, luật, biến ngẫu có ích gì cho thực dụng không? Lại không biết trong bọn các cụ đồ già, các thầy thạo văn cử nghiệp, có ai là người được biết đến năm châu là những châu gì, thế kỷ ngày nay là thế kỷ thứ mấy? Thế rồi trong lỗi văn thi, cấm liên thượng phạm hạ, cấm lạc vận, thất niêm, cấm viết sai, viết sót chữ trong đầu đề, cấm thiệp tích ở trên dưới hay bốn bề xung quanh dấu giáp phùng[29]hoặc dấu nhật trung đã đóng, cấm những chỗ đồ[30], di[31], câu[32], cải[33], không được sai suyễn. Mực thước đến thế kể cũng đã hết chỗ nói. Nhưng chẳng qua chỉ làm cho người ta bó buộc cái tính tự do, suy sút tinh thần hăng hái, để chăm vào cái học vấn vốn rất vô dụng mà thôi! Chúng tôi đọc tờ thế giới nhất cược[34] có bài “Khoa cử quái” nói “Khoa cử nọc độc, khoa cử thối nát” tưởng không phải là lời quá khích.

Than ôi? Cái trường “Thất tự” cái “vi mại tính”, nếu có vĩ nhân từ đó mà ra nữa thì cũng kể là một cái may thôi. Giờ đây, nếu chưa thể theo lối Thái tây mà đặt ra khoa chuyên môn thì trong khi căn cứ vào văn chương để kén người, có thể tạm dùng luận và văn sách cũng còn có lý đôi chút. Ngay như nước Tàu, từ năm Canh tí đến nay cũng bỏ lối bát cổ mà thi sách, luận rồi. Có lẽ ta cũng nên chỉ dùng hai lối văn ấy để mà khảo sát học sinh. Lấy Kinh, Truyện và ba sử (sử Nam, sử Tàu, sử Thái tây) đặt để mà hỏi, cho phép học trò tha hồ bàn bạc, đối đáp tự do, không phải nề hà, không cần thể cách gì hết. Rồi thêm vào đó, mấy bài về toán pháp, về chữ quốc ngữ, để cho cái mà học sinh học và thi không trái ngược với công việc thực tế mà họ phải làm, như thế thì cũng đã là tạm đúng vậy.

Bốn là cổ võ nhân tài.– Trong bài tựa Cường học hội[35] có nói: “Dục khai dân trí, tiền khai thân trí”, nghĩa là muốn khai trí dân, trước hết phải mở trí phái thân sĩ. Đó là một lời nói rất phải, khám phá được tận gốc. Vì rằng dân chúng thì bắt chước bọn nhà nho, hậu sinh thì trông gương bậc tiền bối, tai mắt vẫn có quan hệ với nhau. Bây giờ sách vở đã hiệu đính, phép thi đã sửa đổi, thì chỉ có thể chờ đợi ở số vài trăm, nghìn, vạn người, tức là các viên thừa biện, hành tẩu, hậu bổ, huấn đạo, giáo thụ, các ông tiến sĩ, phó bảng, cử nhân, tú tài và các cậu tôn sinh, âm sinh, học sinh. Nếu các người đó còn chưa phát huy được những điều mới nghe, mở rộng được tri thức mới, để cho cả một loạt đều mới, thì chẳng hóa ra cựu giới và tân giới hai đằng sẽ xung đột cùng nhau sao? Nhà Giám tiếng là cái chỗ bồi dưỡng nhân tài, nhưng những điều dạy dỗ và học tập đều là văn chương của thời đại, có quan hệ gì với thực tế đâu. Trường quốc học lập nên đã 8,9 năm nay, không phải không đào tạo ra được những tay giao thiệp giỏi, nhưng cũng chưa hề thấy có ai hỏi han đến họ. Có học mà không dùng được thì ai theo đuổi làm gì? Vậy tưởng nên sức cho các viên học quan xét xem người nào đã tốt nghiệp rồi thì bổ vào làm việc trong bộ, trong viện, hễ có tờ thông tư thì bảo họ dịch ra, hễ có cuộc thương nghị thì đem họ đi theo, để người đi học không lo rằng một người Tề dạy bảo mà bao nhiêu người Sở lại la ó[36] và người đã thành tài không ngại tài nước Sở dùng sang nước Tần. Còn những ai không học được chữ Tây thì lập một sĩ học viện để thâu nạp lấy họ, rồi đem các sách Công pháp, Tây sử, Luật lệ, Hội điền, Địa đồ, Toán học, v.v… chứa đầy vào trong viện ấy, đặt rõ chương trình, kỳ hạn, bắt họ phải giảng giải, bồi bổ lẫn cho nhau. Hằng năm sát hạch, ai trúng thì được bổ dụng vào chỗ khuyết. Như vậy thì chẳng đến vài năm, người trong cựu giới sẽ quay sang tân giới cả.

Năm là chấn hưng công nghệ – Thường đọc Lễ nghi chí[37]về triều Lê, thấy có một mục chép rằng: “Phàm những đồ sứ Tàu, chỉ hạng ấn quan[38] trở lên mới được dùng”, mà không thể không than thở cho những kẻ mưu tính việc nước bấy giờ sao mà hủ lậu thế. Ngày xưa (bên Trung quốc), chỉ một mình Tạ An mặc chiếc áo lụa mịn (hoàn y) mà các quan trong triều mọi người đều thích, thế là của dùng trong nước được dồi dào. Phong hóa lướt mau là thế. Bên Thái Tây hễ có một thứ đồ mới thì kẻ này sáng chế, người kia làm theo, dẫu phải nhọc nhằn tốn kém bao nhiêu trong khi học hỏi cũng không hề tiếc! Học thấy ích lợi là thế. Nghĩ lại ta ở địa vị người trên, lại tự chọn lấy tốt mà dùng, mà làm sao mệnh lệnh cho người dưới được. Biết rằng có kẻ hơn mình mà không gắng sức cho hơn họ thì làm thế nào mà ích lợi cho nước nhà được? Thế thì dè dặt sự tiêu phí, chi bằng mở rộng nguồn lợi cho nó lưu thông?

Công nghệ nước ta, ngoài một thứ là khảm xà cừ có tiếng với thiên hạ ra, còn như nón lông, nón dứa, ghế mây, chiếu hoa, đồ sơn, đồ vàng, đồ gỗ, đồ đá, đồ gốm, đồ sứ, đoạn nhiễu, vải, lụa v.v…. phàm thứ gì người Tàu làm được thì ta cũng làm được; nhưng hàng ta sánh với hàng Tàu: đằng tinh, đằng thô, khác nhau rõ rệt. Ấy là bởi không biết chấn hưng công nghệ vậy. Nghe nói Bắc kỳ[39] gần đây đã biết được cách trồng dâu nuôi tằm theo phương pháp mới. Việc ấy đăng cả trên mặt báo. Ở kinh đô vừa rồi có đặt ra sở Canh nông, trường Bách công. Phương pháp đó rất hay, ý thì rất tốt. Phàm người nước ta đều nên cổ lệ thế nào, bắt chước thế nào để mau có công hiệu. Nhưng triều đình đã lảng đi mà không hỏi đến, sĩ phu cũng khinh rẻ mà không chịu làm. Thành thử những người vào học trường Công nghệ chỉ là hạng cu ly; mà học sinh nông trường cũng chỉ là người trồng cây mà thôi. Thế là không biết gì về cách chấn hưng công nghệ.

Công nghệ rất quan hệ với quốc gia. Ta không hơn người thì người sẽ bỏ rơi ta. Tiền của phung phí ra ngoài nước không còn gì hại hơn thế nữa! Tưởng nên đón thầy giỏi, mua đồ mẫu, chọn người khéo tay, nhanh trí khôn để cho vào học, rồi triều đình thường thường săn sóc mà dạy dỗ họ. Lại hạ lệnh khắp nước, hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì theo lối Âu châu, cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp cho lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để bảo vệ quyền lợi của họ. Những ai giỏi về khoa cách trí, khí học, hóa học, thì làm cho họ được vẻ vang sang trọng hơn cả những người đỗ đại khoa. Như thế mà không có người chịu trổ tài, đua khéo, để cho hơn người thì có lẽ nào!

Sáu là mở tòa báo – Các nước đặt ra báo chí có những danh mục như nhật báo, tuần báo, nguyệt báo, bán nguyệt báo. Thể tài thì chia ra: chính trị, tin tức, thời sự, quảng cáo v.v… Phàm việc trong ngoài, sáng chế mới, tình hình thương mại, cho đến nhà pháp luật, nhà y học, thợ thuyền, thương gia, chẳng giới nào là không có báo. Pháp có hơn 1230 báo quán, Đức có hơn 2350 báo quán, Anh có hơn 2180 báo quán, Nga có hơn 430 báo quán, Mỹ có hơn 14150 báo quán, Nhật bản không quận nào là không có báo. Trung quốc gần đây cũng mở báo rất nhiều. Dân trí được mở mang là chính nhờ đó. Còn nước ta chỉ có Sài gòn và Hải phòng là có báo chữ Tây, người đọc không được mấy! Báo viết bằng chữ Hán thì chỉ có một tờ Đông văn[40] thôi.

Xét thấy viên chủ bút báo Them-xơ là một vị tể tướng về hưu, nên những lời bình luận của báo ấy rất công bằng và xác đáng. Thiết tưởng ở kinh đô ta cũng nên đặt một tòa báo, lựa lấy một vị đại thần làm chủ, lựa một số thân sĩ sung vào; nửa viết bằng chữ nước ta (quốc ngữ), nửa viết bằng chữ Hán. Bao nhiêu phép tốt, ý hay, nghề lạ, ngón khéo ở Âu, Mỹ cùng là những việc xưa nay ở nước ta, hoặc những lời và việc tìm được ở trong sách mà đáng nêu ra làm kiểu mẫu, hoặc những bài thiết thực về thời sự góp nhặt được trong sách luận bài thi, hoặc những người đặc biệt trong đám nhân tài, hoặc có kỹ thuật mới có ích lợi cho nước nhà do giới công nghệ mới tìm ra, thì đều cho đăng lên báo để cho mọi người cùng biết. Giá báo thì tính rẻ và cứ theo ngày đã định, gửi cho các quan lại lớn nhỏ, trong ngoài và các thôn, các xã mỗi nơi một tờ. Trong dân gian nếu ai bỏ tiền ra mua riêng thì có thưởng. Những kẻ thừa hành phát báo nếu chậm không đúng kỳ, đúng lệ thì phạt. Cái lợi thu được đã đủ chi tiêu về việc nhà báo, và nhờ báo chương rồi sẽ phá tan được cái giới câu nệ, tối tăm.

Một đằng thì mất mấy năm trời để học một thứ chữ khác hẳn tiếng mình mà vẫn không có công hiệu; một đằng thì mất không đến sáu tháng để học ngay được văn tự của riêng mình. Vậy thì không thể không theo chữ nước ta, điều ấy rõ ràng hết sức rồi. Một đằng thì theo đuổi lối học đầu ngọn, ghi nhớ từ chương, chung qui chỉ được cái hư văn. Một đằng thì để tâm vào những điều giản dị, rõ ràng và thiết yếu, mà lại thâu được thực học. Thế thì sách vở không thể không hiệu chỉnh, phép thi không thể không sửa đổi, nhân tài không thể không cổ võ cũng là một việc hết sức dễ hiểu vậy.

Cái thuyết khinh rẻ công nghệ đã nổi lên, thì vàng, bạc, gỗ, đá chỉ là nguyên liệu cho người nước ngoài dùng; cái đạo công nghệ được thịnh hành thì nước, lửa, gió, điện đều giúp ích cho sự cần dùng hằng ngày của dân ta cả. Vậy thì không thể không chấn hưng công nghệ, là điều tất nhiên.

Khư khư ngồi giữ lấy xóm cùng làng hẻm, sao bằng thả lỏng cho tinh thần bay nhảy ra cõi ngoài để cho tất cả vũ trụ đều có thể là nơi mình nằm chơi; dùi mài mấy tập giấy cũ, sao bằng xem báo mới mà trên giấy mực đều là thần trí. Thế thì không thể không mở báo quán là rõ ràng lắm.

Có người nói rằng: non sông nước Nam đã vạch sẵn trong tập thiên thư, văn hiến có từ lâu rồi; phép lục thư[41] đã thông hành rồi, cần gì phải dùng đến chữ mới? Muôn quyền đã giàu rồi, cần gì phải dùng đến tân thư? Khoa cử đã đủ để kén chọn người rồi, cần gì phải theo lối mới? Điều lệ, hiến chương đã đủ để trị nước rồi, cần gì phải dùng đến phép mới? Nếu làm như vậy chẳng hóa ra biến đổi hết nền văn hiến ngàn xưa để bắt chước cái mới được ư?

Than ôi, nếu quả như lời ấy, thì dân trí nước ta đến chìm lỉm tịt mù, không có bao giờ phát triển được nữa. Giả sử thời cục “tỏa quốc” không biến thành thời cục “dây điện, cơ khí” thì những cái “bốn điểm, năm giới” kia sẽ còn lảng vảng mãi trong đầu nhà triết lý, nhà chính trị; gặp việc hư hỏng thì vá cho lành, chữa cho thẳng, tô điểm, phô trương không phải không đủ gọi là văn minh; nhưng ngặt vì không thể thế được. Ví như dây đàn cầm không hòa hài thì phải tháo ra mà sửa lại; nhà ở đã cũ ngàn năm thì phải dỡ ra mà làm lại thì mới có thể ở lại được (lời Lương Khải Siêu). Thời cục cũng vậy, tất phải đến thế. Không nghe câu chuyện nước Nhật bản ư? Trong thời gian hơn ba mươi năm gần đây, nước Nhật thâu thái văn minh Âu châu, nay đã đạt được mục đích rồi. Không nghe câu chuyện nước Tiêm la ư? Trước đây vài mươi năm, nước Tiêm đã giao thương với Âu châu, phái con em đi học, nay chính sự đã có phần mới mẻ, khả quan rồi. Lại không nghe nói chuyện nước Tàu ư? Tàu vẫn là cổ quốc, vậy mà từ khi bị ngoại giới và nội giới kích thích, người Tàu đã tỉnh dậy, người trên dần dần hiểu rằng, phương pháp Âu tây là đáng theo, dưới cũng biết rằng học thuật Âu tây là đáng chuộng. Nay nước Tàu đã có sở Phỏng tạo, có hội quảng học rồi. Họ đang thay cái cốt cũ kỹ câu nệ để nhét vào đó cái đầu óc duy tân; sự tiến hóa của họ thật chưa lường hết được.

Than ôi, người ta đã tỉnh giấc rồi, ta còn mê ngủ. Người đã qua đò, ta còn cắm sào. Thì làm sao đứng nổi trên đài múa văn minh tiến bộ lớn này? Huống chi phong trào vô cùng, cuộc tiến hóa do đó mà cũng vô cùng. (Cái xã hội) mà trước đây gọi là văn minh, nay xem ra chỉ là bán khai thôi. (Cái xã hội) mà trước đây gọi là bán khai ngày nay xem ra chỉ là dã man thôi. Cho nên nói rằng: “cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài”. Lại nói “Hóa mà sửa sang, gọi là biến, suy ra mà làm gọi là thông”. Chí lý thay lời nói của ông Thánh!

Thời buổi ngày nay không phải là thời buổi nên biến thông ư? Người Âu súc tích tâm tư, tài lực có mấy nghìn, mấy trăm năm nay, làm nảy ra được cuộc văn minh, bành trướng không ngừng, lần lượt tràn lan vào các nước châu Á. Ấy thực là một ánh sáng rực rỡ giữa đám tối tăm. Thật là trời mở cho ta mà mình lấp lại sao? Ngày ngày ngồi giữ cái thú ca múa hồ sơn mà không lo, rồi nhìn núi sông đổi dời mà không thương tiếc! Chả biết hai mươi lăm triệu đồng bào ta rồi sẽ kết cục ra sao đây? Chả biết rồi đây người đời sau xem người đời nay, người đời nay xem người đời xưa sẽ đặt ta vào địa vị nào đây?

Nay nếu không muốn mở trí dân thì thôi, ví bằng muốn mở trí dân thì không thể không tìm ra ảnh hưởng để xem cho biết cái cớ bởi đâu mà cuộc văn minh thành ra tĩnh mãi. Ảnh hưởng thế nào? Tức là năm giới như đã nói ở trên đây. Không thể không xét đến nguyên nhân để biết được cái sức ngăn trở văn minh bởi đâu mà ra. Nguyên nhân đó là gì? Tức là bốn điểm đã kể trên đây. Không thể không giữ vững chủ nghĩa để đi đến bước văn minh tấn tới. Chủ nghĩa gì thế? Tức là sáu đường như vừa nói trên đây vậy.

Ôi, đã tìm rồi, đã xét rồi, đã nắm vững rồi, (thì phải đem) búa to đao lớn để phá lũy xưa, xí đỏ, cờ hồng để lên đài mới, phải ném thân vào chỗ thế giới nước xoáy để mài xát nhiệt thành của mình, rồi đưa ra thời đại bay nhảy để cổ lệ cái nguyên động lực, làm sao cho người một nước nhân tư tưởng mà sinh cạnh tranh, nhân cạnh tranh mà sinh tư tưởng. Bây giờ các món học văn minh ngõ hầu mới có được. Công hiệu được thành, sẽ như cái đồng hồ báo thức, chỉ vặn dây cót, cả bộ máy đều chạy. Hiệu quả thu được sẽ như ống hàn thử biểu lên xuống theo không khí mà không sai suyển mảy may. Là vì trình độ dân trí được đề cao dần thì sức bành trướng của văn minh cũng sẽ lớn lên, và nền tảng văn hiến sẽ bền vững lâu dài vậy.

[1] Chu quan: tên một tập sách Trung quốc nói về quan chế nhà Chu (1134 – 771 BC) cũng gọi là Chu lễ

[2] Quân tử: tên một tập sách Trung quốc tương truyền là của Quản Trọng, một nhà chính trị có tiếng đời Xuân Thu

[3] Mặc tử: một bộ sách triết lý của Mặc Địch, nhà học giả nước Lỗ, đời Chiến quốc.

[4]Phong nhã thông biên: một tuyển tập thơ Việt nam làm dưới thời Tự Đức. Có một bài tựa do sứ Trung quôc là Lao Sùng Quang viết. Hiện còn chép lại trong phần II tập Sứ trình yêu thoại khúc của Bùi Ngọc Quý.

[5] Quốc thị: kỷ cương mà cả nước thừa nhận là phải.

[6] Hạ tình: những điều mong muốn của nhân dân

[7] Lư thoa: J.J. Rousseau (1712 – 1778) , đại văn hào, nhà triết học, nhà lý luận của chủ nghĩa dân chủ thế kỷ XVIII tại Pháp

[8] Tư tân tắc: Herbert Spencer (1820 -1903): nhà xã hội học, đồng thời cũng là nhà triết học duy tâm của nước Anh, theo xu hướng thực chứng chủ nghĩa (positivisme). Spencer không viết Tiến hóa luận nhưng cũng là một nhà tiến hóa luận, chủ trương xã hội tư bản là tất nhiên, hài hòa (harmony) và cân xứng. Với học thuyết đó Spencer là tiền bối của xã hội học phản động bên Mỹ gần đây,

[9] Mạnh đức tư cưu: Montesquieu (1869-1755) – nhà văn Pháp thế kỷ XVIII. Đại diện cho ý thức hệ dân chủ Pháp thời đó. Dân quyền thiên còn có thể được dịch thành Vạn pháp tinh lý.

[10] Kỳ: còn gọi là cấp.

[11] “Kinh tế” đây ý nói là chính trị của một nước, khác với nghĩa của danh từ kinh tế ta dùng ngày nay.

[12] Ý nói, nước cũng là của chung mọi người.

[13] Cho vay.

[14] Phụ trách một số công việc nhà nước cùng một lúc.

[15] Ma-tây: Moise, một nhân vật vĩ đại trong kinh thánh (phần cựu ước) đã hướng dẫn nhân dân Do thái (hồi đó bị vua Ai cập chinh phục bắt về làm nô lệ) trong cuộc di chuyển 40 năm để thoát khỏi ách thống trị về tới xứ Già nam

[16] Già nam: Chanaan, tức Palestine, thánh địa của dân Do thái.

[17] Kha luân bố: Christophe Colomb (1451-1506)- nhà thám hiểm người Genes đã tìm ra châu Mỹ.

[18] Lợi mã đậu: Matteo Richi (1552-1610) – một nhà truyền giáo Ý đã ở Trung quốc mấy chục năm.

[19] Tức là tỉnh thành Quảng đông.

[20] Nội hạ ngoại di: gần gũi người trong nước, khinh bỉ người ngoài mà mình chê là mọi rợ

[21] Các nhà nho văn cho đạo Nghiêu, Thuấn, Khổng, Mạnh là đạo của nhà vua. Vương đạo là giáo chỉ của các thánh vương, vĩnh viễn sẽ ngự trị trong thiên hạ; còn lối làm cho nước nhà giàu mạnh của Âu, Mỹ chỉ là thủ đoạn khéo léo như cách các bá chủ đời Xuân thu ngày trước. Bá đạo dẫu có thắng lợi trong một thời gian thì rút cục cũng nhất định sẽ thất bại.

[22] Năm giới: tức là lý tưởng, giáo dục, kinh tế, tính tình và phong tục nói trên kia.

[23] Về vấn đề nguồn gốc chữ viết, tác giả bài này đã lầm lẫn. Trong Tam tạng ký nói: “ngày xưa có ba người tìm ra cách viết chữ đầu tiên: người thứ nhất là Phạn đặt ra lối chữ viết từ trái sang phải; người thứ hai là Khư Lư hay Khư Lâu đặt ra lối chữ viết từ phải sang trái; người nhỏ tuổi hơn hết là Thương Hiệt đặt ra lối viết từ trên xuống dưới. Phạn và Khư Lư là người ở Thiên trúc (Ấn độ), Thương Hiệt làm quan đời Hoàng đế, người Trung hoa…” Còn Thư Tụng không phải là một trong ba người đặt ra chữ mà chỉ là một sử quan thời Hoàng đế cũng như Thương Hiệt.

[24] Thiên Bàn canh trong Kinh thư. Văn đời nhà Ân.

[25] Các thiên Cảo như Tiểu cảo, Đại cảo, Thiệu cảo, v,v… trong Kinh thư, sách đời nhà Chu. Bàn cũng như Cảo đều là viết theo lối bạch thoại ngày xưa.

[26] Chữ đọc theo lối đánh vần và viết theo lối từ trái sang phải.

[27] Tịch Đàm vong tổ – sách Tả truyện chép: Tịch Đàm làm tôi nhà Tần, khi vào yết kiến vua nhà Chu, vua hỏi về điền lễ cũ của nhà Tần, Tịch Đàm không trả lời được, vua bảo rằng Tịch Đàm kể điền lễ cũ mà quên cả tổ tiên.

[28] Chính văn: những lời chính thánh hiền nói ra, chép theo nguyên văn. Ngày xưa gọi là bài cái. Các bài bàn của các nhà nho sau đó gọi là bài hai, bài ba.

[29] Theo phép thi ngày xưa, muốn ngăn ngừa việc gian lận, quyển của thí sinh, nơi hai tờ giấy giáp nhau, bao giờ cũng có dấu son của quan trường; dấu này là dấu giáp phùng. Lúc đứng trưa, thí sinh lại phải xin đóng một dấu vào giữa đoạn văn mình đang viết gọi là dấu nhật trung rồi mới về lều viết tiếp.

[30] Đồ: xóa

[31] Di: viết sót

[32] Câu: chữ dưới móc lên trên

[33] Cải: đổi, viết lại chữ khác.

[34] Chuỗi cười thế giới.

[35] Cường học hội: một hội học do nhóm Khang Hữu Vi tổ chức ở Bắc kinh dưới thời Quang tự, cuối thế kỷ 19 để cổ vũ cho tư tưởng Duy tân

[36] Nhắc lại một câu của Mạnh Tử có ý rằng: khi học tiếng nước ngoài mà chung quanh người ta chỉ nói tiếng nước mình thì cũng vô ích.

[37] Một loại chí trong bộ Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú.

[38] Hàng quan có ấn để đóng dấu trên các văn kiện

[39] Tác giả bài này có thể là người miền Trung?

[40] Tức tờ Đại nam đông văn nhật báo.

[41] Lục thư: sáu lối đặt chữ trong hệ thống chữ Hán: tượng hình, chỉ sự, hài thanh, hội ý, chuyển chú và giả tả.

Bàn về chuyện tự học

image.jpeg

Trước hết, cần phải nói rằng, tự học là một chuyện vạn bất đắc dĩ, vì ai cũng biết câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên”. Một câu hoàn toàn đúng, đúng hơn là người ta tưởng rất nhiều.

Có lẽ không ai lại không muốn có thầy khi cần học một nghề gì, hay dù chỉ là một trò hay một mẹo vặt nào cũng vậy. Và dù không có thầy “chính danh” thì vẫn có thể học từ những người mình quen biết. Đôi khi những người này, chính nhờ cái số đông và tính đa dạng của họ, còn có thể dạy cho mình nhiều hơn và một cách có hiệu quả hơn cả thầy nữa. Học thầy không tày học bạn kia mà!

Viết đến đây tôi sực nhớ đến lời một nhà văn Pháp mà tôi không nhớ tên, nói rằng xưa nay chưa có và không thể có người nào thực sự tự học cả. Và chỉ có những kẻ cực kỳ hợm hĩnh và vô ân mới có thể nói khoác rằng mình là người tự học.

Quả đúng như vậy: ai mà chẳng học của người khác? Làm gì có ai không nhờ người khác mà biết được phần lớn những gì mình biết? Trước tiên, người ta học mẹ mình, rồi đến bố mình, rồi đến những người sống quanh. Và nếu không nhớ điều đó mà nói rằng tự mình tìm biết lấy mọi sự thì đúng là cực kỳ ngu dại, hợm hĩnh và vô ân.

Cho nên, phải hiểu hai chữ “tự học” theo một nghĩa hẹp hơn rất nhiều, kể cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Và nếu có ai không được một người thầy trực tiếp dạy bảo cho một cái gì đấy, thì cũng có những người thầy gián tiếp dạy mình bằng tấm gương của cách sống và cách hành động của họ. Tấm gương ấy có thể tích cực hay tiêu cực: những hành vi xấu xa hay đáng ghét mà ta chứng kiến và thể nghiệm từ người khác cũng bổ ích cho ta không kém gì những hành vi tốt đẹp, nếu ta nhờ cái “tính bản thiện” vốn có của con người mà biết ghét cái xấu và yêu cái tốt.

Sau khi đã hạn định khái niệm “tự học” như vậy, ta hãy trở về với hai chữ tự học đúng như số đông thường quan niệm. Người tự học là một danh từ (hay danh ngữ) có ít nhiều sắc thái “xấu nghĩa” trong nhiều thứ tiếng khác nhau. Cho nên ngay cả những người vốn tự hào rằng mình tự học mà thành tài cũng thấy khó chịu khi có ai giới thiệu mình bằng danh từ này. Vì, trong ý thức của phần đông, khó lòng có ai “tự học” mà thành tài thực sự, và chính những người “tự học” cũng có phần nào chia sẻ cái ý thức ấy, dù những người tự học có tự hào đến đâu về những nhân tố chủ quan và khách quan đã cho phép họ gây dựng lấy sự nghiệp của mình.

Cách đây bốn mươi năm, một người bạn học cũ, khi thấy tôi ngồi mỗi ngày mười tiếng trong Thư viện Khoa học ở phố Lý Thường Kiệt để đọc cho bằng hết các sách ngôn ngữ học, tri thức luận và logic học trong đó, có khuyên tôi thôi làm cái việc dã tràng xe cát ấy đi, vì nếu muốn học giỏi bằng một anh phó tiến sĩ của Nga, một người Việt Nam tự học phải thông minh gấp ba và đọc gấp mười mới được. Lòng tràn đầy tự ái, tôi đáp: “Sao anh biết tôi không thông minh gấp ba và sẽ đọc nhiều gấp mười nó?”

Thật ra, càng về sau, tôi càng hiểu là câu nói của bạn tôi hoàn toàn đúng.

Cố giáo sư Hoàng Tuệ có kể lại cho tôi và nhiều người khác nghe rằng, vào những năm 70, khi ông nhắc đến tên một nhà ngữ học Việt Nam có tiếng trong khi nói chuyện với A.G.Haudricourt, nhà ngữ học Pháp lừng danh này đã thốt lên một câu làm cho ông chột dạ: “Cái anh chàng tự học ấy sẽ không làm được gì nên thân đâu!”

Ông kể thêm rằng lúc bấy giờ, ông nghĩ bụng: “Chắc Haudricourt tưởng tôi là dân “chính quy”, tốt nghiệp đâu ở Liên Xô hay ở Mỹ về, mới nói như thế” (vì ông hiểu câu trên có hiệu lực đối với tất cả những người tự học). Ông quên mất rằng chính Haudricourt cũng là người tự học. Nhà ngữ học nổi tiếng này vốn là một kỹ sư Nông học, chưa hề được đào tạo chính quy về ngữ học bao giờ, nhưng đã viết nhiều sách và bài vở về ngành này, nhất là về ngữ học lịch sử. Và ngay sau khi chứng minh được nguồn gốc Môn-Khmer của tiếng Việt năm 1954, 1959 thông qua sự chuyển biến của các phụ âm thành thanh điệu, ông đã được toàn giới đồng nghiệp trên thế giới coi là một nhà ngữ học lớn, mặc dầu mãi đến năm 1984, nghĩa là khi đã thành một cụ già bảy mươi mấy, ông mới có bằng tiến sĩ.

Kinh nghiệm ấy của Haudricourt và của một số nhà bác học khác cho thấy rằng người tự học không phải bao giờ cũng kém cỏi. Và nếu đem số người tự học mà thành tài so với số người có bằng cấp hẳn hoi mà dốt nát, chưa chắc bên nào đông hơn. Nhưng cái định kiến làm cho hai chữ tự học có sắc thái coi thường tuyệt nhien không phải là vô căn cứ. Nói gì thì nói, chứ những khó khăn mà người tự học chắc chắn là lớn gấp bội so với những khó khăn của người được đào tạo chính quy.

Trên con đường học vấn của người tự học nhan nhản những cạm bẫy cực kỳ nguy hiểm khiến cho tri thức của họ có nguy cơ lệch lạc hoặc chứa những lỗ hổng rất lớn mà bản thân họ không hay biết. Tôi và các bạn đồng nghiệp đã từng nhiều lần giật mình toát mồ hôi lạnh mỗi khi nhận ra một lỗ hổng to tướng nằm trong vốn tri thức của mình, trong khi đang làm nhiệm vụ của người dẫn đường cho cả một lớp thanh niên đi theo với một lòng tin tuyệt đối.

Cố bộ trưởng Tạ Quang Bửu có một bài viết rất hay về giai đoạn khủng hoảng tinh thần mà một số nhà phát minh lớn trong lịch sử nhân loại đã trải qua, khi họ giật mình nhận thấy điều họ mới phát minh bác bỏ các bậc tiền bối của họ một cách quá phũ phàng. Vì lòng ngưỡng mộ và sùng kính sâu xa đối với những người mà xưa nay họ vẫn coi là thầy, họ thấy mình quá táo tợn và hỗn xược. Một câu hỏi khủng khiếp hiện lên trong tâm trí họ: “Chẳng lẽ những con người từng làm loé lên trong tâm trí mình cái tia sáng làm nên tất cả những gì giá trị nhất trong tri thức của mình, chẳng lẽ những con người ấy sai? Hay chính vì còn quá dốt mà mình nghĩ ra cái điều mới mẻ này, cái phát minh mà mình tưởng đã đủ để phủ định họ?”

Thế là các nhà cách tân bắt đầu soát lại từ đầu những luận điểm của mình để tìm cho ra cái chỗ sơ hở nào đó đã dẫn tới chỗ phủ định các bậc thầy. Cái việc đó làm thành một cơn vật vã kéo dài suốt một thời gian dài lao tâm lao lực. Hầu hết các nhà khoa học lớn, trước khi dám công khai phủ nhận những lời phàn truyền có tính chất Thánh kinh mà họ đã học thuộc lòng từ thuở bé từ những bậc tiền bối mà họ vẫn hằng sùng kính, đều phải trải qua cơn vật vã ấy.

Ở đây có thể có hai khả năng. Một là người làm khoa học, sau những cố gắng kiểm nghiệm lại, thấy rõ mình nhầm ở một cái khâu nào đó, bèn từ bỏ giả thuyết đã đề ra, trở lại điểm xuất phát và bắt đầu lại quá trình khảo sát. Hai là anh ta cảm thấy mình không nhầm, ngay cả khi nghe những lời phản biện của các bạn và các thầy, vì anh có được những lý lẽ căn cứ trên những dữ liệu đủ chắc chắn để bác bỏ những lời phản biện đó và xác nhận lý thuyết của mình như một bước cách tân thực sự. Dù kết quả của cuộc kiểm nghiệm ấy có đau xót ra sao, thì anh ta cũng trưởng thành lên một bước rất dài. Miễn sao anh trung thực với chính mình và với các sự kiện có liên đến vấn đề, để chấp nhận một kết luận đúng, dù nó có làm tổn thương đến lòng tự ái của anh đến đâu đi chăng nữa.

Với người tự học, khả năng vẫn nhầm lẫn ngay cả sau khi trải qua cuộc khủng hoảng ấy lớn hơn rất nhiều so với người được đào tạo chính quy. Vì sự phản biện trong cảnh cô đơn là việc cực kỳ khó khăn. Ở đây có một vực thẳm không đáy chờ sẵn người tự học: đó là thảm cảnh của chứng vĩ cuồng, mà tôi đã có dịp bàn ở một chỗ khác. Lâm vào thảm cảnh này, người tự học sẽ trở thành kẻ điên rồ không phương cứu chữa, một phế nhân không có lấy được niềm an ủi tối thiểu của các phế nhân là lòng thương xót của đồng loại: không ai có thể xót thương một kẻ giương giương tự đắc, tự cho phép mình khinh miệt mọi người chỉ vì mình học không đến nơi đến chốn.

Người trí thức chân chính không hẳn là người biết nhiều. Điều quan trọng hơn là họ biết rõ mình biết cái gì, và không biết cái gì. Biết rõ mình không biết cái gì khó gấp ngàn lần biết rõ mình biết cái gì. Và điều đó chính là thước đo chính xác nhất của cái gọi là “trình độ văn hoá”.

Người có học vấn thực sự, nhờ đã trải qua những bước đường gian nan, cực nhọc để có được những tri thức mà trước kia mình tưởng rất dễ, biết rằng những điều mình học được chỉ như hạt muối bỏ bể so với những điều mình chưa học. Và bao giờ cũng phải có học một cái gì đã, rồi mới bắt đầu biết là mình không biết cái gì. Cho nên người có học không bao giờ nghĩ rằng có những ngành nghề mà mình không cần giờ học nào cũng có thể bàn đến được, càng không bao giờ nghĩ rằng mình đủ sức viết hàng ngàn trang sách về những môn ấy để dạy mọi người.

Đáng tiếc là khá nhiều người đã thành công rực rỡ trong một lĩnh vực nào đó rất dễ có ảo giác là người lỗi lạc như mình học gì cũng giỏi và thậm chí không học cũng biết. Ngay từ cái giây phút mà ở người trí thức sinh ra cái ảo giác này, thì anh ta lập tức không còn là người trí thức nữa và trở thành con người lố bịch và ngu muội nhất thế gian: một kẻ vĩ cuồng. Đối với người tự học, cái hiểm hoạ này dễ trở thành hiện thực hơn đối với người học chính quy rất nhiều.

Cho nên, người tự học không nên tự ti, chỉ nên cảnh giác đối với bản thân. Không có một người thầy để kiểm tra mình, để thường xuyên nhắc nhở cho mình nhớ rằng mình chưa trở thành vĩ nhân trong lĩnh vực của mình và không biết gì trong các lĩnh vực khác, thì chính mình phải thường xuyên làm việc đó thay cho người thầy.

Nhưng trong thực tế, nhất là ở nước ta, số người có năng khiếu mà được học chính quy xưa nay cực hiếm, cho nên việc tự học cần phải được khuyến khích và giúp đỡ bằng mọi phương tiện. Ở các nước tiên tiến, nơi mà điều kiện để học chính quy rất thuận lợi , những loại sách tự học vẫn được xuất bản rất nhiều, và cho rất nhiều ngành nghề khác nhau, trong khi ở ta loại sách này rất hiếm (trừ sách học tiếng Anh).

Nhưng bao giờ nói đi rồi cũng phải nói lại: người được học chính quy không phải bao giờ cũng thành tài, cũng trở thành người có học thức. Bên cạnh cái định kiến cho rằng người tự học không bao giờ học đến nơi đến chốn, lại có cái định kiến cho rằng chỉ cần tốt nghiệp từ một trường lớn, có một người thầy danh tiếng lừng lẫy, là đủ bảo đảm một vốn học thức uyên thâm.

Đến đây, lại phải nói ra một điều mà thoạt nghe có vẻ ngược đời. Đó là dù có học trường gì, thầy nào nổi tiếng đến đâu chăng nữa, thì nhân tố quan trọng nhất, quyết định kết quả mỹ mãn của quá trình đào tạo vẫn là cái công tự học của người học trò. Tự học ở đây chỉ cái phần tích cực, chủ động, quyết đoán của người học. Vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình học tập là vai trò của người học, tuy vai trò của người dạy không phải không quan trọng.

Ở nhà trường, dù chỉ nói đến môn học chính, người đi học chỉ học một tuần mươi giờ là cùng. Thì giờ còn dư dùng để tự học (tự quan sát thêm sự kiện, tự tìm dẫn chứng, tự kiểm nghiệm thêm các giả thuyết, tự đọc thêm sách vở, tự liên hệ thêm với thực tế . ) nhiều gấp mấy 2-5 lần so với thì giờ trên lớp. Cho nên ngay đối với người học chính quy, việc tự học vẫn là chính, kể cả khi lên lớp nghe giảng hay hoạt động trong những buổi thảo luận

Người thầy giỏi có thể lầm cho một số học trò trở thành một người say mê môn học mà vốn mình không thích thú gì. Nhưng với một người thầy không giỏi, người học trò ham học cũng có thể tìm thấy hứng thú như khi đọc một cuốn sách hay. Còn với một người học trò không ham học chút nào thì dù thầy có gíảng hay đến bao nhiêu cũng không gây được men say trong lòng người ấy. Và dĩ nhiên họ không hơi đâu mà tìm sách đọc thêm.

Vả chăng, ở đây cũng còn phải tính đến nhiều nhân tố khác nữa: gia đình, môi trường xã hội

Người lấy danh vọng của trường và của thầy làm niềm tự hào của mình cũng không khác bao nhiêu so với người lấy tấm bằng làm mục đích của đời mình. Đó là những người lấy danh vọng và địa vị làm mục đích, chứ không phải là những người ham học. Họ cũng giống những người lấy danh vọng tổ tiên làm niềm tự hào cho đời mình. “Ông nội tớ đỗ trạng nguyên, thì tớ đủ hơn mọi người trong tỉnh rồi, còn gì phải học nữa?”

Tôi không phủ nhận tầm quan trọng của di truyền. Cái gen tài năng rất có thể là một nhân tố không thể thiếu được trong sự nghiệp của một nghệ sĩ hay một nhà bác học. Nhưng xưa nay ai cũng biết không phải 100% con cháu dòng giống đều là những người tài năng. Như rất nhiều bậc thiên tài khác đã khẳng định, nhân tố di truyền chỉ cho ta điều kiện tiên quyết mà thôi. Là con nhà nòi, ta có đúng 10% khả năng trở thành nhân tài. Còn 90% nữa là do sức lao động bỏ ra trong ba bốn chục năm đèn sách. Con nhà nòi, dù có năng khiếu bẩm sinh đến đâu chăng nữa mà không dày công học hỏi, nghiên cứu và thực nghiệm, thì mãi mãi chỉ là kẻ thất học mà thôi.

Nói tóm lại, tự học là một cách học như mọi cách học khác, nhưng người không được học chính quy gặp khó khăn hơn nhiều, cho nên dễ nhầm lẫn hơn. Người đó cần hiểu hết những sự thiệt thòi mà mình phải chịu, và cố gắng lấp kín những kẽ hở có thể rất nhiều do không có người hướng dẫn.

Mặt khác, người được đào tạo chính quy cũng không thể không tự học, nghĩa là giữ vai trò chủ động trong việc tiếp thụ tri thức và bổ sung, chỉnh lí những tri thức đã được học từ những người thầy, trong đó không phải chỉ có những người thầy chính thức trực tiếp dạy mình, mà còn cả những người bạn và những người học trò của mình nữa.

Cao Xuân Hạo, Kiến thức ngày nay, số 396, năm 2001

Từ kẻ sĩ thời xưa đến trí thức thời nay

Trong bài nầy, chúng ta thử tìm hiểu những đặc tính của kẻ sĩ thời xưa và trí thức ngày nay.

Để tránh lạm dụng danh từ, chúng ta cần định nghĩa một cách rõ ràng hơn từ trước đến giờ hai danh từ trên mà người ta thường dùng. Danh từ “trí thức” hay được xem như là tương đương hoặc dịch nghĩa của những danh từ Tây Âu như “intelligentsia”, “intellectual”, “travailleur intellectual”, hoặc “élite”… mà ra, còn “kẻ sĩ” hay “nhà nho” thì được nguời Âu dịch là “lettré”.

Từ đó, người ta thường dùng danh từ “trí thức”, hoặc “kẻ sĩ”, “nhà nho” theo dịch nghĩa những danh từ của người Tây phương hơn là theo đúng nghĩa căn bản của nó ở Đông phương. Vậy nên việc minh định ý nghĩa của danh từ không phải là không bổ ích. Vẫn biết rằng phương pháp chiết tự chưa chắc hẳn sẽ đem 1ại cho ta một cái nhìn toàn diện về một khái niệm, vì ngôn ngữ, cũng như mọi vật trên đời, đều có sanh, có lớn, có biến chuyển, có diệt: nội dung của danh từ cũng vì vậy mà thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, việc phân tích căn tự sẽ giúp chúng ta hiểu rõ nguồn gốc và ý nghĩa căn bản của danh từ mà chúng ta dùng.

I – “KẺ SĨ”

Trước hết là danh từ “kẻ sĩ“. Ai cũng biết rằng trong xã hội thời xưa, kẻ sĩ được xếp vào hàng đầu, không những về địa vị ưu tiên – “nhứt sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương“ – mà nhứt là về vai trò quan trọng trong xã hội. Yếu tố quan trọng của vai trò này không phải là tài cán quân sự, tổ chức kinh tế hay xã hội…, mà là nêu gương mẫu đạo đức cho quần chúng. Có người dựa trên hệ thống giá trị thực tiễn ngày nay, cho rằng vai trò đạo đức, luân lý không quan trọng, đáng kể, so với những kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội… cần phải có để lãnh đạo quần chúng. Tuy nhiên, nếu đặt vào khuôn khổ của xã hội thời xưa, thì yếu tố đạo đức không những được quan niệm, mà chính thực sự là nền tảng đầu tiên trong việc xây dựng và duy trì xã hội.

Trong bất cứ thời nào, xã hội nào, người trí thức thời xưa cũng như thời nay, đều đóng một vai trò quan trọng, và tùy theo quan niệm của xã hội thời đó mà đặc tính của người trí thức có khác nhau.

Chúng ta thử phân tích danh từ “kẻ sĩ“. Nếu viết theo Hán tự, chúng ta có thể tìm hiểu “kẻ sĩ” một cách chính danh hơn. Cần so sánh chữ “sĩ” với 2 chữ “vương” và “thổ” để rõ thêm ý nghĩa. Trong chữ “Vương”, nét ngang trên có nghĩa là “trời”, nét ngang dưới có nghĩa là “đất”, nét ngang giữa chỉ “người”, và nét gạch đổ nối liền ba nét gạch ngang trên: “vua” là người được mệnh của Trời Đất, hoặc đứng trung gian hà hợp giữa Trời Đất để trị vì thiên hạ. Trong chữ “Thổ”, nét gạch dưới chỉ cho “đất”, được nhấn mạnh và viết to như ngụ ý chứa đựng, làm nền tảng cho con người. Trái lại trong chữ “Sĩ”, “người” có một vai trò quan trọng, như vươn mình lên để vượt cả thiên nhiên địa lý.

王 (vương) 土(thổ) 士(sĩ)
“Kẻ sĩ” là “người không chịu khuất phục”. Không những không chịu khuất phục mà còn tìm cách ngự trị, vượt lên những khó khăn của thiên nhiên cũng như nhân sự. Kẻ sĩ là người có “chí khí bất khuất”, đặc điểm quan trọng nhất của lẻ sĩ là “bất khuất trước bạo tàn”. Chí khí ấy được rèn luyện, nuôi dưỡng hằng ngày và được chứng tỏ bao lần trong lịch sử trước ngoại xâm cường bạo, nhứt là dưới thời kỳ thực dân Pháp… Kẻ sĩ đương nhiên phải là nhà ái quốc: như các cụ Phan Đình Phùng, Phan Sào Nam, Vân vân…

Tuy chú trọng trước tiên đến đức độ, nhưng kẻ sĩ cũng không quên trau dồi trí độ, vì đặc điểm thứ hai của kẻ sĩ là “người cầu tiến”. Muốn hành động một cách dũng cảm, cần phải chắc chắn trong sự hiểu biết và phán đoán của mình. Muốn được vậy, cần phải suy nghĩ thấu đáo trước sau, trong cũng như ngoài mình. Rèn luyện trí óc để biết đúng mà dấn thân không sai lạc và có hiệu quả. Kẻ sĩ một khi đã thấy rõ con đường do trí tuệ soi sáng, thì không còn do dư dự gì nữa, chỉ một mực tiến lên con đường mà họ đã vạch sẵn[1].

Nhưng kẻ sĩ cũng rất dè dặt, khiêm nhượng và thành thật đối với mình. “Biết những gì mình biết, biết những gì mình không biết, đó mới thật là biết”[2]. Tử Lộ hỏi Đức Khổng về việc chết, Đức Khổng đáp: “Việc sống còn chưa biết, biết chi đến việc chết”[3], và không bàn thêm nữa…

Tuy nhiên chung quy lại, trí tuệ và dũng cảm cũng chỉ là hai đức tính phụ thuộc, hai phương tiện bổ túc, nhắm thực hiện và phát huy hai đức tính vi tiên nơi kẻ sĩ, là “nhân” và “nghĩa”.

Có dũng cảm mà không có trí tuệ thì sẽ đưa đến những việc làm liều lĩnh tai hại. Có dũng cảm mà không có nhân nghĩa thì sẽ sinh ra trộm cướp bất nhân. Có trí tuệ mà không có dũng cảm, thì tuy thấy việc phải mà không làm (Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã)[4]. Có trí tuệ, dũng cảm mà không có lòng nhân, thì trong hành động sẽ đưa đến cường bạo, vì quên lấy con người làm gốc. Còn có lòng nhân mà không có trí, dũng, thì chỉ có tấm lòng thương người rào rạt, nhưng rồi chỉ “than mây khóc gió”, chứ không hành động gì cụ thể để giúp người. “Nhân, trí, dũng”, đó là ba đức tính không thể không có nơi kẻ sĩ[5].

Ở đây chúng ta thấy rõ đặc tính của kẻ sĩ gần giống như châm ngôn của người Phật tử. “Nhân, trí, dung” thay vì “bi, trí, dung”. Vậy “nhân” khác với “bi” ở điểm nào? Đạo Phật lấy chữ “bi” làm gốc, cũng như kẻ sĩ lấy chữ “nhân” làm gốc. Là một tôn giáo nhắm giải thoát vượt trên cả vũ trụ thế gian, tâm tánh từ bi nơi Phật giáo là một tình thương vô biên vô hạn, không loại trừ một ai, tình thương bao trùm cả mọi sinh vật trên đời.

悲 (bi) 智 (trí) 勇 (dũng)
仁 (nhân) 智 (trí) 勇 (dũng)
“Nhân” cũng là “lòng thương mọi người”[6]. Nhưng Khổng giáo là một học thuật nhắm cải tạo xã hội một cách trực tiếp và cụ thể hơn, cho nên “tình thương mọi người” nơi kẻ sĩ, cũng vì vậy mà phải được thích nghi với thực tế và giới hạn hơn. Tử Lộ hỏi Đức Khổng: “Người có lòng nhân có ghét ai chăng?” Đức Khổng đáp “Có”, và tiếp theo “Chỉ người có lòng nhân mới thương người và ghét người một cách đúng đắn”[7]. Vậy “nhân” là tình thương, tuy rộng lớn bao la, nhung có phân biệt giới hạn, có suy xét lựa chọn, để hành động được hiệu quả thực tế trong đời.

Nói tóm lại, lý tưởng của kẻ sĩ thời xưa không phải chỉ rèn luyện bản thân mình, mà chính còn là dấn thân để cải tạo xã hội, xây dựng quốc gia phú cường; quyền lợi chung của dân tộc là điều thao thức lo âu trước tiên của kẻ sĩ: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Có thể nói kẻ sĩ là người kiểu mẫu trong bất cứ xã hội nào lấy đạo đức làm nền tảng và lấy hoà hợp nhân tình làm chung đích.

Ngày nay, với biến chuyển của nhân tình thế thái, với sự xáo trộn văn hoá, kẻ sĩ chỉ còn la một hình ảnh lu mờ trong ký ức, nhường chỗ lại cho một hạng người mà người ta thường gọi là “trí thức”. Vậy chúng ta hãy xem những đặc tính của người trí thức.

II – NGƯỜI TRÍ THỨC:

Thế nào là người trí thức? Có rất nhiều định nghĩa, nhưng tóm tắt, dựa trên nội dung do mỗi tác giả, chúng ta có thể phân biệt hai quan niệm về trí thức: một có tính cách nhân bản và một có tính cách xã hội.

Quan niệm có tính cách nhân bản thường nhấn mạnh đến giá trị của cá nhân người trí thức, và danh từ “trí thức” hay đượm một màu sắc tốt đẹp cao cả. Trái lại quan niệm có tính cách xã hội thường xem người ”thức” chỉ như là một đơn vị trong một giai cấp xã hội nào đó: vì có một địa vị, hoặc một vai trò nào đó trong xã hội, nên được gọi chung là “trí thức”, chẳng hạn người ta dùng danh từ “trí thức” để chỉ tất cả những “người làm việc bằng óc não” (travailleurs intellectuels), để phân biệt với những người làm việc bằng tay chân (travailleurs manuels). Trong trường hợp này, danh từ “trí thức” có tính cách “trung hoà” (neutre). Lại có khi không những không được đượm một màu sắc nào cả, mà còn có phần bị xem như là thấp kém, so với những giai cấp xã hội khác. Riêng về chúng ta, chúng ta sẽ thử tìm hiểu «trí thức» một cách chính danh hơn.

Trí là gì? Phàn Trì hỏi Đức Khổng về trí, Đức Khổng trả lời: “Trí là hiểu người”. Trí là khả năng suy luận để phán xét phải trái, tốt xấu. Không những «hiểu người» mà còn hiểu vật chung quanh mình: “cách vật trí tri”.

Hơn nữa, chữ “Trí” gồm có chữ “tri” (biết) và chữ “viết” (nói) mà ra. Người có trí không nghững là người hiểu biết sự vật phải trái, mà còn có khả năng diễn tả một cách minh bạch – bằng lời nói, bằng bút mực, hoặc bằng hành động – những hiểu biết của mình ra cho những người khác biết, nhắm mục đích giúp kẻ khác cải tạo và đóng góp vào ích lợi chung.

知(tri) 曰 (viết) 智 (trí)
Một người dù có kiến thức quảng đại, sáng suốt đến đâu, thấy đâu là xấu tốt phải trái, mà chỉ im lặng, chỉ giữ hiểu biết ấy cho riêng mình, không có can đảm, hoặc không đủ nghị lực để phát biểu ra, thì người ấy chưa xứng đáng là người “trí”. Họ chỉ mới xứng đáng với danh từ “tri”, là “người có hiểu biết mà thôi”.

“Thức” là thức tỉnh, là tự hiểu mình. “Connais-toi toi-même” của Socrate. Thức thuộc về sự hiểu biết nội tâm nơi mình, hơn là hiểu biết ngoại vật bên ngoài. Vả lại chữ “thức” gồm có chữ “ngôn” (lời nói: một tư tưởng vừa nảy ra, suy nghĩ 3 lần, rồi phát biểu ra bằng miệng, đó là lời nói), chữ “âm” (tiếng vang) và một bộ có nghĩa là tác dụng: lời nói bên ngoài có tác dụng phản chiếu vào tâm khảm bên trong và làm thức tỉnh mình. Có thể nói chữ “thức” gần như đồng nghĩa với chữ “giác” (phần trên là nửa trên chữ “học”, phần dưới là chữ ”kiến” là thấy) trong Phật giáo.

一 三(tam) 口(khẩu) 言(ngôn)
言(ngôn) 音(âm) 識(thức)
學(học) 見(kiến) 覺(giác)
Trí thuộc “hiểu biết” (science, savoir), thức thuộc về “lương tri” (conscience). Người trí thức, theo đúng nghĩa của danh từ, là người vừa hiểu biết sự vật, vừa hiểu mình, “hiểu người hiểu ta”, và những kiến thức ấy, họ đem diễn tả, chỉ dẫn cho người khác biết, hầu mong ích lợi chung. Như vậy, người trí thức phải là người vừa có đủ tài trí (science), lương tri (conscience) và đức độ (caractère).

智 (trí) 識(thức)
Ở đây chúng ta cũng thấy thoáng qua ba đức tánh của kẻ sĩ đã vạch ra ở trên, là “nhân, trí, dung”. Nơi người trí thức, tài trí thuộc về “trí”, lương tri thuộc về “nhân”, và đức độ thuộc về “dung” – phải có dũng cảm để dám nói lên sự thực, dù phải có hại cho mình. Nhưng trí thức khác nhau với kẻ sĩ ở một điểm rất quan trọng, là “trí” được kể như vi tiên, được xếp vào hàng đầu, thay vì “nhân” nơi kẻ sĩ: kiến thức khoa học được đặt nặng trước tiên, thay vì sự rèn luyện tâm linh, thay vì “tiên học lễ, hậu học văn” nơi kẻ sĩ. Mẫu người lý tưởng theo quan niệm ngày nay – trí thức – trước tiên phải có kiến thức rộng thay vì nhân nghĩa, đức độ cao, như người lý tưởng ở xã hội thời xưa. Hay nói một cách đúng hơn, đó là hai quan niệm khác nhau giữa văn hoá Tây phương và Đông phương. Tây phương và tân học chuộng về thông thái (le savant), Đông phương và cựu học chuộng về đức độ (le sage).

Sau khi đã định nghĩa danh từ “trí thức”, chúng ta hẳn thấy rõ rằng có một số rất đông những người tự mệnh danh, hoặc được người ta gọi là “trí thức”, thật ra không xứng đáng với danh từ ấy, theo đúng nghĩa của nó. Nói riêng về Việt Nam, người có đỗ đạt, có bằng cấp cao không thiếu gì, nhưng họ không phải là người trí thức, vì: người ta có thể “thông thiên văn, đạt địa lý” nhưng tâm khảm chỉ là một mảnh đất hoang vu, nghèo nàn về tâm tánh, đức độ; người ta có thể “cách vật trí tri”, nhưng chưa tự thức được mình; người ta có thể thấy rộng hiểu xa, có thể giác ngộ được mình, nhưng không có can đảm hoặc nghị lực để nói lên sự thực mà mình biết, hầu chỉ dẫn đúng đường cho quần chúng, nhắm mục đích giác tha và ích lợi chung.

(Theo tạp chí Gió nội, số 22-24, tháng 4-6/1968)

Nguồn: hocthenao.vn

Cái chết của đạo đức hay Đạo đức là phản xạ có điều kiện về phương diện văn hoá

Trong chuyên luận Cái chết của đạo đức hay Đạo đức là phản xạ có điều kiện về phương diện văn hoá, ông nêu lên một số luận điểm có tính tranh luận về đạo đức trên cơ sở tán thành sự tiếp cận về phương pháp luận của thuyết tương đối. Tuy chưa chắc hoàn toàn gặp gỡ chúng ta, nhưng một vài quan điểm của ông về đạo đức cũng đáng để chúng ta xem xét vì tính khách quan của vấn đề. Trân trọng trích dịch và giới thiệu cùng bạn đọc.

Trong tranh luận về đạo đức, ai cũng cho rằng mình đúng và người tranh luận với mình là sai lạc. Những người theo thuyết tương đối không chấp nhận giả định này. Họ tin rằng trong việc đối lập ý kiến về đạo đức, có thể cả hai bên đều đúng. Thuyết tương đối bị phê phán khắp nơi. Người ta đả kích, xem nó chẳng biết gì nhiều về thế giới này nhưng ra vẻ tự cao tự đại, nguy hiểm và thậm chí chẳng ăn nhập gì với cuộc sống. Các nhà triết học đạo đức, các nhà thần học và các nhà khoa học xã hội luôn nỗ lực chỉ ra các giá trị khách quan để ngăn chặn sự nguy hiểm của thuyết tương đối. Tôi nghĩ rằng những nỗ lực này bị phá sản. Thuyết tương đối về đạo đức là một học thuyết đáng tin cậy và nó có những hàm ý quan trọng giúp chúng ta kiểm soát cuộc sống của bản thân, tổ chức xã hội và ứng xử với người khác.

Những kẻ ăn thịt người và những cô dâu trẻ con

Đạo đức ở các thời đại và khu vực không giống nhau. Cùng một sự vật, hiện tượng nhưng đối với người này thì tốt đẹp nhưng với người khác thì xấu xa. Hãy lấy tục ăn thịt người – cái tục lệ có thật diễn ra ở nhiều tộc người ở nhiều nơi trên thế giới – để xem xét vấn đề. Nhà nhân học Peggy Reeves Sanday phát hiện bằng chứng về việc tục ăn thịt người chiếm “tỷ lệ” 34% các nền văn hóa trong một ví dụ xuyên suốt tiến trình lịch sử. Hoặc các môn thể thao gây đổ máu, chẳng hạn như những trò diễn ra trong những đấu trường La Mã, nơi hàng ngàn người theo dõi trong trạng thái phấn khích cảnh những người khác phải quăng thân vào cuộc chiến sinh tử đáng nguyền rủa. Giết người để thỏa niềm vui cũng được ghi chép trong các nền văn hóa có tục săn đầu người, ở đó việc chém đầu người khác đôi khi là một hoạt động có tính tiêu khiển. Nhiều xã hội từng tiến hành những hình thức tra tấn và hành hình để công chúng xem một cách cực đoan, ví dụ như bối cảnh châu Âu trước thế kỷ 18. Và có những nền văn hóa ở đó người ta làm những việc chỉ nghe đã thấy đau đớn: rạch mông, khâu bít bộ phận sinh dục phụ nữ, bó chân- một thực tế kéo dài cả 1.000 năm ở Trung Hoa và có liên quan đến chủ ý làm đau đớn và tê liệt những cô gái trẻ. Sự thay đổi thái độ đối với bạo lực diễn ra cùng với sự thay đổi thái độ đối với tình dục và hôn nhân. Khi nghiên cứu các xã hội độc lập về phương diện văn hóa, các nhà nhân chủng học phát hiện trên 80% cộng đồng trong số đó cho phép đàn ông được đa thê. Hình thức hôn nhân “đặt đâu ngồi đấy” cũng phổ biến; và ở một số nền văn hóa, cha mẹ gả chồng cho con gái khi họ còn ở tuổi dậy thì hoặc thậm chí còn nhỏ hơn thế nữa. Một số vùng của Ethiopia, phân nửa các cô gái kết hôn trước sinh nhật lần thứ 15 trong đời mình.

Đương nhiên, cũng có những điểm tương đồng giữa các nền văn hóa về đạo đức. Không có cộng đồng nào tồn tại dài lâu nếu thành viên của nó không ngừng tấn công người láng giềng một cách vô cớ hoặc không khuyến khích việc nuôi con. Nhưng, với những sự câu thúc nặng nề này, hầu như bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. Một số cộng đồng cấm tấn công người hàng xóm, nhưng khuyến khích tấn công làng bên. Một số cộng đồng khuyến khích các bậc cha mẹ phạm tội giết trẻ sơ sinh, gây nhục hình thân xác đối với trẻ em, hoặc bắt các em lao động chân tay hay làm nô lệ tình dục.

Với những sự biến đổi trên đây, chắc là phải thét lên để giải thích. Nếu đạo đức là khách quan, liệu chúng ta sẽ tìm thấy sự nhất trí lớn hơn chăng? Những người theo chủ nghĩa khách quan trả lời theo hai cách khác nhau:

Phủ nhận sự khác nhau. Một số môn đệ của chủ nghĩa khách quan cho rằng sự khác nhau về đạo đức bị phóng đại quá mức – con người thực ra đồng ý về cùng những giá trị nhưng do có niềm tin thực tế hoặc hoàn cảnh sống khác nhau nên có cách hành xử khác nhau. Ví dụ, những chủ nô lệ có thể tin rằng nô lệ của mình kém cỏi về trí tuệ và những người Inuits giết trẻ sơ sinh có thể bị buộc phải làm như vậy do sự khan hiếm tài nguyên nơi lãnh nguyên. Nhưng có một sự vô lý ai cũng thấy là tất cả những sự khác biệt về đạo đức có thể được giải thích theo cách này. Trước hết, sự khác biệt về niềm tin thực tế và hoàn cảnh cuộc sống được viện ra trên kia hiếm khi biện minh cho cách hành xử có liên quan. Phải chăng sự thấp kém của một nhóm người thực sự là lý do biện minh cho việc nô dịch hóa họ? Nếu thế, tại sao chúng ta không nghĩ rằng điều đó mặc nhiên được chấp nhận để nô dịch những người có chỉ số IQ thấp? Điều kiện cuộc sống trong lãnh nguyên biện minh cho việc giết trẻ sơ sinh? Nếu vậy, tại sao chúng ta không giết sạch ngay những đứa trẻ nghèo khổ trên khắp thế giới thay vì quyên góp cho Hội Từ thiện quốc tế? Sự khác nhau về hoàn cảnh không cho thấy con người ta chia sẻ các giá trị, chia sẻ mọi người, đúng hơn là chúng giúp cho việc giải thích tại sao các giá trị kết luận lại rất khác nhau.

Phủ nhận những vấn đề khác nhau đó. Những người theo chủ nghĩa khách quan thừa nhận sự tồn tại của hiện tượng khác nhau về đạo đức cho rằng sự khác nhau là hậu quả của thuyết tương đối; suy cho cùng, các lý thuyết khoa học cũng khác nhau, và chúng ta không quả quyết mọi lý thuyết đều đúng. Phép loại suy này không chấp nhận được. Sự khác nhau của các lý thuyết khoa học có thể được giải thích bằng sự quan sát không đầy đủ hoặc thiếu thốn công cụ; sự tiến bộ trong mỗi lý thuyết đưa tới sự hội tụ. Khi những sai lầm trong khoa học được chỉ ra, người ta bắt tay điều chỉnh. Ngược lại, đạo đức không để lại dấu vết khác nhau trong quan sát, và cũng không có bằng chứng về sự hội tụ hợp lý như là kết quả của các cuộc xung đột đạo đức. Chế độ chiếm hữu nô lệ ở phương Tây không kết thúc bởi vì những quan sát khoa học mới; nói đúng hơn nó đã kết thúc với cuộc cách mạng công nghiệp, đưa đến một nền kinh tế dựa trên tiền lương. Thật vậy, chế độ chiếm hữu nô lệ trở nênthịnh hành sau thời kỳ Ánh sáng khi khoa học được cải thiện. Ngay cả với sự hiểu biết hiện đại của chúng ta về bình đẳng chủng tộc, Benjamin Skinner đã chỉ ra rằng thời đại ngày nay ngày càng có nhiều người trên toàn thế giới thực ra là sống trong chế độ nô lệ hơn cả thời kỳ đỉnh cao của sự buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương. Với đạo đức, tình hình không giống như khoa học, không có tiêu chuẩn nào đạt mức được công nhận phổ quát để sử dụng trong việc kiểm tra, xác nhận hay điều chỉnh khi bất đồng xảy ra.

Những người theo chủ nghĩa khách quan có thể trả lời rằng những tiến bộ rõ ràng đã được con người tạo ra. Chẳng phải giá trị của chúng ta tốt hơn so với giá trị của những xã hội ‘nguyên thủy’ nô dịch – nơi diễn ra nạn nô dịch, ăn thịt người và chế độ đa thê – hay sao? Ở đây chúng ta gặp nguy hiểm do sự tốt hơn giả định mà chúng ta tự nghĩ một cách thiển cận. Nền văn hóa nào cũng nghĩ mình thủ đắc chân lý đạo đức. Xét ở viễn cảnh bề ngoài, sự tiến bộ của chúng ta có thể được xem là một sự thụt lùi. Hãy quan sát tình hình sản xuất nông nghiệp, sự tàn phá môi trường, các loại vũ khí giết người hàng loạt, sự khai thác của tư bản, sự toàn cầu hóa không cưỡng nổi, sự đô thị kém cỏi và việc đưa người thân lớn tuổi vào nhà dưỡng lão. Cách sống của chúng ta có thể trông lố bịch trong con măt của tiền nhân và những thế hệ hậu sinh.

Cảm xúc và tâm trí

Quan điểm về sự khác nhau của đạo đức được lý giải tốt nhất bằng cách giả định rằng đạo đức – khác với khoa học – không dựa trên lý trí hay sự quan sát. Thế đạo đức dựa trên cái gì? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phải xem xét đạo đức được nhận thức như thế nào.

Trẻ em bắt đầu tìm hiểu các giá trị khi chúng họ còn rất nhỏ, trước khi chúng có thể suy luận có hiệu quả. Trẻ em hành xử theo cách mà người lớn không bao giờ chấp nhận được: la hét, ném thức ăn, vứt quần áo vương vãi khắp nơi, vấp ngã, bị trầy xước, cắn nhau và nói chung là làm ầm ĩ cả lên. Giáo dục đạo đức bắt đầu khi cha mẹ chúng uốn nắn những hành vi có tính phản xã hội của chúng, và các bậc phu huynh thường làm như vậy bằng cách quy định cảm xúc của con trẻ. Phụ huynh đe dọa trừng phạt thân xác (“Con muốn nát mông không hả?”), họ giảm sự âu yếm với chúng (“Ba/mẹ… không chơi với con nữa đâu!”), tẩy chay (“Đi vô buồng ngay!”), tước đoạt (“Con đừng hòng được ăn bánh nữa! “) và quy cho chúng chịu trách nhiệm những nỗi đau đớn khác nhau (” Hãy nhìn vào nỗi đau mà con đã gây ra! “). Mỗi phương pháp nói trên đưa đến sự cư xử không hề đúng tí nào đối với trẻ em, đưa chúng đến trải nghiệm cảm xúc tiêu cực và có liên quan với những hành động có tính trừng phạt. Trẻ em cũng tìm biết cách thẩm thấu dần cảm xúc. Chúng quan sát phản ứng của cha mẹ đối với chương trình tin tức và sách truyện. Chúng bị nghe hàng giờ những chuyện ngồi lê đôi mách của người lớn về người láng giềng không ra gì, gã đồng nghiệp vô đạo đức, một người bạn phản trắc và những người bị gia đình ghẻ lạnh. Là những người bắt chước đại tài, trẻ em tiếp thu các cảm xúc mà cha mẹ chúng thể hiện, và – khi chúng lớn lên một mức nào đó– chúng sẽ bộc lộ.

Điều hòa và thẩm thấu cảm xúc không đơn thuần là công cụ tiện lợi cho việc chiếm lĩnh các giá trị: chúng rất cần thiết. Các bậc cha mẹ đôi khi cố gắng giải thích này nọ với với con trẻ, nhưng lý giải về đạo đức chỉ đạt hiệu quả bằng cách thu hút sự chú ý đối với các giá trị mà trẻ tiếp thu thông qua việc điều cảm xúc. Không có sự lý giải nào là đủ để mang lại giá trị đạo đức bởi lẽ tất cả các giá trị, xét đến cùng, chính là các thái độ mang cảm xúc.

Các nghiên cứu gần đây về tâm lý đã hỗ trợ sự đoán định này. Dường như việc chúng ta xác định cái gì là sai luôn dựa cảm xúc của chúng ta: nếu một hành động nào đó làm cho chúng ta cảm thấy sai, chúng ta kết luận rằng đó là sai. Phù hợp với điều này, sự phán đoán đạo đức của con người có thể được chuyển bằng cách thay đổi trạng thái cảm xúc của mình một cách giản đơn. Chẳng hạn, nhà tâm lý học Simone Schnall và các đồng nghiệp của bà phát hiện ra rằng những gì diễn ra gắn với mùi thối của đánh rắm, vật xú uế và phim ảnh kinh tởm có thể khiến người ta đánh giá nghiêm trọng hơn về mặt đạo đức so với những hiện tượng không có liên quan.

Nhà tâm lý học Jonathan Haidt và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng người ta tiến hành các phán đoán về mặt đạo đức ngay cả khi họ không thể biện minh gì về chúng. Trong một nghiên cứu do tôi chủ trì, 100% số người đồng ý việc vuốt ve một đứa trẻ là sai ngay cả khi đứa trẻ ấy không thể bị tổn hại hoặc bị tổn thương gì. Cảm xúc của chúng ta xác quyết rằng những hành vi trên là sai quấy ngay cả khi sự biện minh thông thường của chúng ta về kết luận đó (có hại cho nạn nhân) là không phù hợp.

Nếu đạo đức dựa trên cảm xúc thì những người không có cảm xúc mạnh sẽ bị mù loà về đạo đức. Sự đoán này được xác nhận bởi những người bị bệnh tâm thần – những người phải chịu sự thiếu hụt cảm xúc một cách sâu sắc. Nhà tâm lý học James Blair đã chỉ ra rằng những người bị bệnh tâm thần xem các quy tắc đạo đức chỉ là những thoả thuận. Điều này có nghĩa cảm xúc là cần thiết cho việc đánh giá đạo đức. Việc đánh giá một chuyện gì đó sai trái về mặt đạo đức chính là một phản ứng cảm xúc. Nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng. Đạo đức liên quan đến cảm xúc mà là cảm xúc cụ thể. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng những cảm xúc đạo đức chính yếu gồm sự giận dữ và phẫn nộ khi chứng kiến một hành vi nào đó của người khác và cảm giác tội lỗi và xấu hổ về một hành động nào đó do bản thân gây ra. Có thể nói rằng, một người nào đó không che giấu thái độ đạo đức đối với một điều gì đó trừ khi người đó buộc phải có cả hai hướng cảm xúc về chính mình và về người khác. Bạn có thể ghét việc ăn lưỡi bò, nhưng trừ khi bạn là một người ăn chay, bạn sẽ không xấu hổ về việc đó.

Trong một số trường hợp, cảm xúc đạo đức được rèn luyện trong thời thơ ấu có thể tái hoạt động trong cuộc sống sau này. Người nào cảm thấy xấu hổ về ham muốn tính dục đồng tính thì sau đó có thể cảm thấy xấu hổ về cảm giác lấy làm xấu hổ đó. Các nhà nghiên cứu cho rằng loại người này không những khắc sâu trong tâm trí xu hướng xem đồng tính luyến ái là đồi bại mà còn xác tín rằng đồng tính luyến ái là điều chấp nhận được và sau này được phối hợp để tiết chế những cám giác cũ theo từng chặng đường đời.

Nếu điều này đúng, chúng ta có một tập hợp các giá trị cơ bản quan trọng về mặt cảm xúc và khả năng lý luận cho phép chúng ta mở rộng áp dụng những giá trị này cho các trường hợp mới. Có hai hàm ý quan trọng ở đây. Một là một số cuộc tranh luận về đạo đức sẽ không đi đến đâu vì hai bên có giá trị nền tảng khác nhau. Đây thường là trường hợp xảy ra với người phóng khoáng và những người bảo thủ. Nghiên cứu cho thấy rằng những người bảo thủ đánh giá một điều gì đó ít quan trọng hơn những người phóng khoáng, trong đó có cấu trúc quyền lực trên dưới, sự tự tin, đoàn kết nhóm và độ thanh khiết về tình dục. Các cuộc tranh luận về phúc lợi xã hội, chính sách đối ngoại và các giá trị tình dục bị trở ngại do những khác biệt có tính nền tảng.

Hai là, chúng ta không thể thay đổi các giá trị nền tảng bằng lý trí đơn phương của mình được. Các sự kiện khác nhau ở tuổi trưởng thành có thể có khả năng phục hồi những tình cảm đã khắc sâu của chúng ta, bao gồm chấn thương tình thần, sự tẩy não, và sự hoá nhập sâu trong một cộng đồng mới (chúng ta có khuynh hướng vô thức đối với cài gì phù hợp về mặt xã hội). Tuy nhiên lý lẽ có thể được sử dụng để thuyết phục mọi người rằng giá trị cơ bản của họ cần được thay đổi bởi vì lý trí có thể được trình bày khi các giá trị mâu thuẫn và tự hủy hoại. Một bài viết về thuyết tương đối trong đạo đức thậm chí có thể thuyết phục một người nào đó từ bỏ một số giá trị cơ bản mà đối với người dân, đó là những giá trị đã được khắc sâu về mặt xã hội. Nhưng chỉ mình lý trí không thể làm cho mọi người thấm nhuần về những giá trị mới hoặc thoả ước mà chúng ta cần phải có. Lý trí cho chúng ta biết bản thân từng trường hợp chứ không giúp chúng ta biết tại sao tại như vậy.

Tóm lại, phán xét đạo đức dựa trên cảm xúc, và lý trí thường chỉ góp phần giúp chúng ta ngoại suy trên cơ sở các giá trị cơ bản đối với những trường hợp mới mẻ. Lý trí cũng có thể đưa đường chỉ lối cho chúng ta phát hiện ra rằng các giá trị cơ bản của chúng ta được khắc sâu về phương diện văn hóa và có thể thúc đẩy chúng ta tìm kiếm các giá trị thay thế, song lý trí không thể cho chúng ta biết giá trị được chấp nhận và cũng không thể làm thấm nhuần những giá trị mới.

Thiên Chúa, tiến hoá và lý lẽ: phải chăng có một quy luật đạo đức khách quan?

Giả định phán xét đạo đức dựa trên tình cảm có thể giải thích lý do tại sao người ta thay đổi từ nền văn hoá này sang nền văn hóa kia và chống lại sự biến đổi lý do, nhưng điều này là không đủ để chứng minh rằng thuyết tương đối đạo đức là có thật. Có một ý kiến tranh luận đề nghị thuyết tương đối cũng phải chỉ ra rằng không có cơ sở nào cho đạo đức nằm ngoài những cảm xúc mà chúng ta được quy định. Thuyết tương đối phải đưa ra được lý do của những lý thuyết duy lý mang màu sắc chủ nghĩa khách quan về sự thất bại của đạo đức.

Những người theo chủ nghĩa khách quan cho rằng có một đạo đức thật sự liên kết tất cả chúng ta lại với nhau. Để bảo vệ quan điểm này, chủ nghĩa khách quan phải đưa ra một lý thuyết về việc đức hình thành từ đâu và sự phổ biến của nó theo cách đó. Có ba sự lựa chọn chính: Đạo đức do một vị chúa nhân từ ban; đạo đức hình thành từ trong bản chất của con người (ví dụ, chúng ta có thể tạo tác và phát triển một bộ các giá trị đạo đức có tính bẩm sinh), hoặc đạo đức xuất hiện trên cơ sở các nguyên tắc hợp lý mà tất cả những người có lý trí phải nhận ra như thể các quy tắc logic và số học. Nhân loại đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để bảo vệ từng khả năng trong ba khả năng trên, và không thể đưa ra một sự đánh giá có tính quyết định luận đối với các lý thuyết về đạo đức. Thay vì như thế, chúng ta hãy xem xét một số lý do đơn giản.

Luận đề các mệnh lệnh của Thiên Chúa như một phương thuốc chữa bệnh cho thuyết tương đối không nhận được sự đồng thuận giữa các tín đồ về cái điều mà Thượng đế hay các Chúa muốn chúng ta làm. Ngay cả khi có những cuốn Kinh Thánh linh thiêng chép các mệnh lệnh của Thiên Chúa, vẫn xảy ra những bất đồng trong cách giải thích: Câu “Con sẽ không giết người?” bao hàm trong đó có kẻ thù? Lời đó có bao hàm động vật không? Liệu mệnh lệnh của Chúa có xem người đó có tội vì đã giết người không có chủ ý (ngộ sát) và do tự vệ? Mệnh lệnh của Chúa có cấm tự tử? Nhiệm vụ chứng minh sự tồn tại của Chúa về mặt triết học vốn đã khó, luận giải Chúa là ai và giá trị sự trừng phạt của người càng khó hơn.

Luận đề bản chất con người là nền tảng của đạo đức thiếu ý nghĩa có tính chuẩn tắc, nghĩa là điều này không tự thân đưa đến cho chúng ta quan điểm dứt khoát (kiểu nhất nguyên luận) về tốt và xấu. Giả sử chúng ta có một số giá trị đạo đức có tính bản năng, tại sao chúng ta tôn trọng chúng? Động vật linh trưởng không có tính người thường giết cá thể khác, ăn cắp, hiếp dâm mà không bị các thành viên khác trong bầy đàn trừng phạt. Có lẽ các giá trị có tính bản năng nguyên thủy của chúng ta cũng thúc đẩy những kiểu hành vi đó. Lời đó được suy ra là chúng ta sẽ không trừng phạt họ phải không? Chắc chắn không phải. Nếu chúng ta có những giá trị bẩm sinh – nguồn cơn của các cuộc tranh luận, chúng tiến triển để giúp chúng ta ứng phó với cuộc sống như những người thuộc thời kỳ săn bắn hái lượm trong những nhóm cạnh tranh nhau. Để sống trong những xã hội lớn ổn định, chúng ta ra sức theo đuổi ngày càng quyết liệt những giá trị “văn minh” do chính chúng ta tạo ra.

Cuối cùng, luận đề lý trí, như chúng ta đã xem xét, không tạo ra thêm giá trị. Nếu tôi nói với quý vị rằng rượu vang là sự kết hợp cân bằng giữa chất tanin và axit, câu đó không làm quý vị thấy nó ngon. Tương tự, lý do không thể mách bảo cho chúng ta biết những sự việc nào là tốt về mặt đạo đức. Lý do là một sự trung lập có thể định giá được. Cùng lắm, lý trí có thể cho chúng ta biết giá trị nào mâu thuẫn và hành động nào sẽ dẫn đến việc thực hiện mục tiêu của bản thân. Nhưng, do có tính mâu thuẫn, lý do không thể cho chúng ta biết nên theo đuổi mục tiêu nào. Nếu mục tiêu của tôi xung đột với mục tiêu của quý vị, lý trí bảo tôi rằng tôi phải vừa cản trở mục tiêu của quý vị, vừa thôi chăm chút mục tiêu của mình, nhưng lý trí không thể giúp tôi sở hữu được sự lựa chọn ưu việt hơn sự lựa chọn người khác.

Nhiều người nỗ lực bác bỏ những mối quan tâm như thế, nhưng từng người lại ra sức đổ dầu vào lò tranh luận. Ở cấp độ này, không có sự tranh biện nào của những người theo chủ nghĩa khách quan làm lay chuyển những người hoài nghi và đưa đến những giới hạn cơ bản được đề cập ở đây (tính vô hình của giới răn, tình trạng trống rỗng có tính chuẩn tắc của sự tiến hóa và sự trung lập về mặt đạo đức của lý trí); họ không thể.

Sống với thuyết tương đối về đạo đức

Người ta thường chống lại thuyết tương đối bởi vì họ nghĩ rằng nó có những hàm ý không thể chấp nhận được. Chúng ta hãy kết luận câu chuyện này bằng cách xem xét một số lập luận và câu trả lời.

Chất vấn: Thuyết tương đối chủ trương chúng ta chấp nhận bất cứ điều gì?

Trả lời: Thuyết tương đối thừa nhận rằng nếu quý vị bạn khắc sâu bất kỳ tập hợp giá trị nào, những giá trị đó sẽ trở nên đúng đắn đối với người sở hữu chúng. Nhưng chúng ta có ít động cơ để khắc sâu các giá trị một cách tùy tiện. Nếu chúng ta đào luyện con cái mình thành những kẻ giết người tàn bạo, chúng có thể giết chúng ta hoặc bị giết chết. Những giá trị tự thân hoàn toàn có tính tự hoại không thể nào tồn tại lâu được.

Chất vấn: Thuyết tương đối đòi hỏi rằng chúng ta không có cách nào phán Hitler?

Trả lời: Trước hết, hành động của Hitler một phần dựa trên những niềm tin sai lầm, chứ không phải là giá trị (chủ nghĩa phân biệt chủng tộc “khoa học”, thuyết tuyệt đối về đạo đức, khả năng thống trị thế giới). Thứ hai, cho rằng Hitler không dựa trên giá trị sai lầm, nhưng chúng nguyhiểm. Thuyết tương đối không chủ trương chúng ta nên thể tất cho chính thể độc tài giết người. Khi một ai đó đe dọa chúng ta hoặc cách sống của chúng ta, chúng ta vùng vẫy mạnh mẽ để bảo vệ chính mình.

Chất vấn: Thuyết tương đối chủ trương rằng tranh luận về đạo đức là vô nghĩa vì tất cả mọi người đều đúng?

Trả lời: Đây là một sự ngộ nhận khủng khiếp. Nhiều người xếp các giá trị đạo đức qua một bên, có người tham gia tranh luận bằng cách chống lại môi trường đạo đức chung. Chúng ta cũng có thể tranh luận nghiêm túc về việc áp dụng và mở rộng các giá trị cơ bản của chúng ta như thế nào. Tuy nhiên, có một số cuộc tranh luận vô nghĩa. Những người phóng khoáng và bảo thủ hiếm khi thuyết phục người khác, nhưng các cuộc tranh luận công khai về chính sách củng cố nguyên tắc cơ bản và tác động đến những cái chưa được quyết định.

Chất vấn: Thuyết tương đối không cho phép sự tiến bộ về đạo đức?

Trả lời: Xét theo một ý nghĩa thì điều này đúng; các giá trị đạo đức không trở nên ngày càng đúng hơn. Nhưng chúng có thể trở nên tốt hơn khi được xem xét theo các tiêu chuẩn khác. Ví dụ, một số bộ giá trị được nhìn nhận phù hợp hơn và hữu ích hơn đối với việc ổn định xã hội. Nếu thuyết tương đối về đạo đức là đúng, đạo đức có thể được coi là một công cụ và chúng ta có thể suy nghĩ chúng ta muốn công cụ đó làm gì cho chúng ta và điều chỉnh đạo đức cho phù hợp.

Người ta có thể tóm tắt những điểm này bằng cách nói rằng thuyết tương đối không làm suy yếu năng lực phán xét người khác hay cải thiện giá trị của mình. Tuy nhiên, thuyết tương đối không cho chúng ta biết chúng ta sai lầm khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta thuộc về một nền đạo đức đúng đắn. Chúng ta có thể cố gắng theo đuổi các giá trị đạo đức đưa con người đến cuộc sống hoàn thiện hơn nhưng chúng ta phải nhớ rằng sự hoàn bị tự nó có tính tương đối, vì vậy không có bộ giá trị đơn độc nào có thể được xem có tính thỏa mãn phổ quát. Việc phát hiện ra thuyết tương đối đúng đắn có thể giúp mỗi người cá nhân cá thể trong chúng ta bằng cách tiết lộ rằng giá trị của chúng ta có tính biến đổi và thiển cẩn. Chúng ta không nên nghĩ những người khác chia sẻ quan điểm của chúng ta và chúng ta nên nhận ra rằng quan điểm của chúng ta sẽ đổi khác khi chúng ta sống trong hoàn cảnh khác. Những phát hiện này có thể làm cho chúng ta khoan dung và linh hoạt hơn. Thuyết tương đối không chủ trương sự khoan dung hay bất kỳ giá trị đạo đức nào khác, nhưng, một khi chúng ta thấy rằng không có đạo đức đúng đắn độc tôn, chúng ta mất đi động lực cố gắng áp đặt các giá trị của mình lên những người khác.

Jesse Prinz, Giáo sư Triết học nổi tiếng của Trường Đại học New York

Đặng Ngọc Hùng dịch

Theo Philosophynow